Người Hà Nội
hôm nay
Ngay từ hồi còn chiến tranh, ông bạn mình đã
nói về “cái chất Hà Nội” không còn nữa. Ngày đó bọn mình mới ra trường vài ba
năm, ông bạn ở lại Hà Nội làm trong một viện thiết kế, mình lặn lội đời trai giữa
núi rừng. Về Hà Nội gặp nó, nó bảo như vậy. Lại thêm: “Toàn chọ chọe, chẳng hiểu
có còn nổi mười phần trăm?” Hồi chiến tranh, người Hà Nội đi khắp nơi và người
khắp nơi về Hà Nội. Bạn mình nói cái ý đó.
Ngày đó mình không chú ý. Phần do mình cũng
không phải người Hà Nội, phần vì ba năm vừa rồi, mình lang bạt khắp mọi vùng
quê. Chất dân dã quê kiểng ngấm vào mình nhiều hơn chất thành thị. Mình không
chú ý đến nhận xét của ông bạn là như thế.
Nhưng bây giờ, sau bốn chục năm sống ở Hà Nội,
mình đã nhận mình là người Hà Nội. Nhưng quả thật, để cảm thấy, để ngấm được cái chất “thanh
lịch, tươi rói” như ba năm đầu đời, ngày còn ở tuổi thanh niên ấy thì chắc là không! Người như mình ở Hà Nội bây giờ nhiều
lắm và mình tự trả lời, câu trả lời cũng rất phân vân, mình cũng chẳng hiểu cái
chất Hà Nội là như thế nào nữa. Mình sống như muôn vàn con người khác, một thời
gian dài bươn trải và bon chen lo cái ăn, cái mặc, chốn ở và vèo một cái, cuộc
đời trôi qua đúng như bóng câu. Mới vậy đã trở về già. Về già mới có thời gian
và điều kiện ngẫm nghĩ về cái điều mà mấy chục năm qua, chỉ đôi khi có chuyện,
gặp chuyện mới lại nghĩ lại câu nói của thằng bạn xưa. Thằng bạn đã sớm thành
người thiên cổ. Mình viết cái này để nhớ tới bạn.
Để nói về cái chất của người Hà Nội hôm nay vậy
là không dễ. Mình viết theo cái sự nghĩ của mình. Ở nơi xa xôi đó, bạn nếu
không đồng ý, cũng chỉ coi như là một câu nói bỏ ngỏ. Chúng mình vốn quý cái
“tình bạn thuở thiếu thời”. Đừng tranh cãi gay gắt! Thời gian trôi và cuộc sống
thay đổi, thăng trầm, ý nghĩ, nhận thức con người nhiều khi cũng thay đổi. Chẳng
có gì bất biến là vậy.
Có điều phải khẳng định, mình vẫn mang theo hệ
tư tưởng cũ, nghĩa là hệ tư tưởng có cái chất cộng sản dù biết rằng cái “hệ” đó
cũng lỗi thời rồi, mình đã và đang đả phá cái hệ đó nhưng cách sống và cách
nghĩ của mình vẫn xưa, vẫn ít thay đổi. Có lẽ vì thế mà nó trở nên khó hiểu với
người đọc bài của mình. Mình đã và đang tưởng tượng ra điều đó. Âu cũng là tính
cách mỗi con người trong cuộc đời mênh mông không bờ bến này thôi.
Từ cái ngày không chú ý đến sự thay đổi dân số
cơ học bởi sự chuyển dịch dần dần do điều
kiện sống thay đổi của các thành viên trong xã hội đến cái ngày mình cũng hòa
vào đó, mình cũng thành người Hà Nội nhập cư, người tứ chiếng đổ về đất thánh,
như ngày chiến tranh lính mình vẫn coi Hà Nội như vậy. Cách gọi đó hàm ý ghen tị
và có cả một tí chút coi thường của dân lính kinh qua chinh chiến.
Chất của người Hà Nội là thế nào, đến giờ
mình vẫn coi cái đó là bình thường thôi. Thời đầu, ngày mình ba chục tuổi, đã định
cư ở Hà Nội gần chục năm dù rằng gần chục năm đó vì chiến tranh, chỉ lấy Hà Nội
làm chốn đi về, cũng coi như đã thành người Hà Nội. Ký ức những năm tháng đó là
ký ức đan xen cuộc sống lính chiến và cuộc sống với người Hà Nội trong thời chiến.
Người Hà Nội suy nghĩ ước mong điều gì, cũng là suy nghĩ và ước mong của
mình. Mình rất hiểu sự thiếu thốn, khổ cực,
đói kém cũng thông cảm và hiểu nụ cười rạng rỡ, sung sướng của người dân vừa
mua được gạo, được thịt từ cửa hàng lương thực, thực phẩm ra. Những ngày đó, người Hà Nội thể hiện hai tính cách, một, rất vô
tư, xông xênh, ưu tiên người ra trận và hai, cũng rất chắt chiu, tiết kiệm đến
độ bủn xỉn khi tranh cãi nhau về những quyền lợi được hưởng, về miếng thịt
ngon, con cá tươi … hay thậm chí chỉ là cái chỗ xếp hàng. Đụng một tí cũng có
thể cãi nhau to tiếng. Cái thiếu thốn làm người Hà Nội có lẽ cũng chẳng thiết
gì đến tính cách thanh lịch Tràng An của mình nữa. Ngay cả ý nghĩ, mình là người
Hà Nội hay không cũng chẳng quan trọng.
Nhưng khi ra ngoài địa phận Hà Nội lại khác.
Trong chiến dịch Nam Lào, trên đường hành quân mình gặp một đoàn lính bộ binh.
Như bao nhiêu toán lính gặp nhau, tiếng hỏi quê vang lên khắp nơi. Mình nói Hà
Nội đây, ai Hà Nội không? Phải nói là mình tự hào khi nói “Hà Nội đây” thật. Chẳng
hiểu tại sao mình lại coi mình là người Hà Nội nữa. Có thể đấy là một địa danh
danh giá, người ở đó cũng danh giá. Thói háo danh của tuổi trẻ mà. Cứ tưởng cái
đó là vinh quang, vẻ vang. Một thằng lính trong đoàn bộ binh thấy mình nói “Hà
Nội đây” dừng lại trước mặt mình: “ Khu nào?”
“Hai bà… Ấy ở đâu?” Hắn ta không trả lời, hỏi thêm “Phố nào?”. Mình ngày
đó chỉ đi lại khu tập thể Kim Liên, nơi ông bố có căn phòng mươi mét vuông được
cơ quan phân phối, chỉ đôi khi tạt qua, đâu có biết khu nào, bèn trả lời “Kim
Liên”. Hắn bảo mình nói phét. Kim Liên thuộc Đống Đa. Vậy rồi đoàn quân ào đi.
Mình cũng chỉ ngượng tí ti, cứ ra vẻ ta đây người Hà Nội mà không biết rõ cái
nơi mình ở.
Nghĩ lại chuyện đó, tự hỏi, tại sao hồi đấy
mình lại ngượng được tí ti nhỉ? Bây giờ á, thử nói chuyện với mười người dân sống
ở phố Đặng Tiến Đông cả chục năm, hỏi ông Đặng Tiến Đông là ai, liệu có được
năm người biết đó là ông đô đốc của vua Quang Trung. Chả dám chắc đâu. Đấy là
cái phố mà năm nào vào ngày mồng năm tết, cũng mở hội gò Đống Đa, kỷ niệm chiến
thắng lẫy lừng chống quân Thanh đấy.
Cái Hà Nội bây giờ nó “tả pí lù” như vậy. Vậy
thử hỏi chất của Hà Nội bây giờ là gì?
Lại so sánh hai tính cách Bắc Nam. Nói cho gọn,
một ở Hà Nội, một kia ở Sài Gòn. Lấy cái chuyện đi xe ngược chiều làm ví dụ.
Cái anh chàng xứ Bắc nhà mình là chúa hay cãi, nhiều lí sự, thích tranh luận,
phân bua và cũng chẳng sợ chính quyền, bởi chính quyền vốn từ nhân dân mà ra,
cái thằng dân Hà thành nó biết tỏng cái anh chính quyền là thế nào, nó không sợ.
Nếu nó sai, nó sẽ cãi nhằng, xin xỏ, không chịu nộp phạt. Nếu bí quá, nó kỳ
kèo, nó nói lý do, nó chày cối đủ kiểu và xin “giảm án”. Cái anh dân Sài thành
nó khác, nó biết tuân thủ pháp luật, biết sợ cái người cầm cân pháp luật. Cái
sai đó ít xảy ra. Nó chấp hành ngay. Đấy là nói cái ngày xưa chưa xa lắm. Bây
giờ thì ở đâu, Bắc hay Nam, cũng thành “tinh” cả rồi. Có khi cái chuyện đút lót
anh Hà thành phải học anh Sài thành ấy chứ.
Bây giờ nói về người
Hà Nội hôm nay. Làm người Hà Nội nhiều khi ngượng. Nói thật là có nhiều cái ngượng lắm. Chuyện
người phố cổ nói ngọng “lờ dài nờ ngắn”, chuyện hoa xuân, chuyện xả rác, chuyện
chửi thề… Lấy mấy cái hội hoa xuân ra mà so sánh. Thiếu gì địa phương người ta
tổ chức hội hoa xuân, vậy mà người Hà Nội có “đặc trưng” khác. Người Hà Nội như
muốn thích lấy cái chung mang về nhà mình làm của riêng. Lấy được một tí của
người cũng thích thú và thỏa mãn. Mấy cái hội hoa xuân tổ chức vừa rồi, có cái
hội hoa nào được yên lành từ đầu đến cuối đâu. Cảnh giằng cướp, phá phách, chỉ
biết riêng mình, không biết để cái đẹp cho người khác cùng thưởng thức, lúc nào
và ở đâu cũng sẵn sàng xảy ra. Thấy mấy cô thiếu nữ đẹp ngời ngời, ngắt hoa, chụp
ảnh làm duyên cho riêng mình hưởng mà thấy ghét và mặt mũi các cô bỗng trở nên
xấu thế. Còn đâu cái thanh lịch xưa nữa!
Chuyện rác rưởi đổ xuống hè phố ngay dưới
chân của các nam thanh nữ tú học vấn đầy mình, thậm chí là gần ngay các cổng
trường đại học, là hiện tượng thường thấy sau những lễ hội, những buổi họp mặt
vui vẻ ngoài trời. Nhìn các bộ mặt trẻ non cứ tỉnh bơ khi chị công nhân môi trường
thu nhặt rác đổ vào thùng rác không xa là bao chỗ các bạn trẻ ta ngồi mới thấy
đau lòng cho một thế hệ quá vô cảm với nỗi vất vả của người khác. Một cụ già lẩm
bẩm: “Một lũ hư hỏng!” Những con người đó không biết ngượng với hành vi nho nhỏ
của mình, thì lớn lên, chúng sẽ không biết ngượng và cũng không chùn tay với những
điều ác. Nếu những người trẻ kia biết hành vi xả rác là cái xấu, cái ác với người
lao động , chúng sẽ là những con người khác, nhân ái, đồng cảm hơn. Cái ác càng
ngày càng nhiều ở lứa tuổi này là như vậy.
Chuyện quẩn quanh nho nhỏ là thế. Chuyện lớn hơn như chuyện bảo vệ Tổ quốc thì sao? Cũng buồn lắm. Chuyện này có nhiều điều thật đáng nói. Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước. Người Hà Nội có quyền tự hào về điều này lắm chứ. Vâng, đúng như vậy đấy. Người Hà Nội nhạy bén với mọi vấn đề. Nhưng những vấn đề nhạy cảm lại cứ như phải chờ đợi hướng dẫn. Cái tư duy khốn khổ đó cứ quàng vào đầu vào cổ dân ta và người Hà Nội không biết cho đến khi nào mới hết. Mà nói cho nhanh, việc quân Tàu nó vào đến sân nhà mình, rao bán đồ đạc trong nhà mình, đánh giết người nhà nhà mình mà sao im ắng lạ. Hà Nội có động tĩnh đấy nhưng phải nói chỉ có một bộ phận rất nhỏ hoạt động. Cái bộ phận rất nhỏ này tự liên kết với nhau thành một nhóm mà so với số dân Hà Nội thì chỉ đáng gọi là nửa dúm. Cái lão chủ nhà Hà Nội lại bất lực không phân biệt được cái sai điều đúng nên xử lí vấn đề hết sức lúng túng và bị động. Buồn và lạ quá cơ!
Cái đau của người Hà Nội hôm nay là không có
minh chủ. Chẳng hiểu nhặt nhạnh từ đâu mang về những khuôn mặt tối rầm rầm, nói
năng rề rà như những cán bộ tuyên truyền thời cải cách trước đám đông bần cố
nông mù chữ. Tại sao ở cái thời tin tức được truyền bá ngay lập tức bằng những
cú nhấp chuột mà vẫn còn những con người tối dạ như vậy. Họ không hiểu họ đang
sống trong thời đại “một ngày bằng hai mươi năm” như lời một bài ca ngày xưa
hay sao, họ cứ cho là mình có quyền thì mình muốn làm gì cũng được, nói năng chẳng
cần biết đối tượng nghe là ai nữa. Ngay cả những vĩ nhân không phải lúc nào
cũng khôn ngoan. Chẳng hiểu họ có biết câu nói đó mà lúc nào cũng lên giọng răn
dạy dân chúng.
Trong những nỗi buồn, có nỗi buồn cay đắng
hơn khi trong “cái thời cuộc” hôm nay có “đóng góp” bởi sự vô cảm của nhiều tầng
lớp nhân dân với vận mệnh Tổ quốc, với sự an nguy của quốc gia. Nói đó là sự vô
cảm đã đủ liều chưa không biết. Mình nghĩ chưa đủ, mình muốn dùng nhiều từ nặng
nề hơn, đó là sự bàng quan, phó mặc, muốn ra sao thì ra, chẳng phải rỗi hơi mà
dính vào chuyện đó. Một kiểu sống ích kỷ đã ăn quá sâu vào mọi tầng lớp nhân
dân, từ cái thời quá đói khổ. Kiểu sống thực dụng, tôi chỉ cần biết tôi. “Khôn
sống mống chết!” Họ thản nhiên buông thõng câu nói đó. Trong cái hiểu cách sống
“khôn” đó, họ có biết cái giá của những con dân đất nước này phải trả. Một
nghìn năm Bắc thuộc chưa đủ để họ thay đổi suy nghĩ và thức tỉnh hay sao? Người
Hà Nội hôm nay liệu còn mấy ai nghĩ về những điều đó?
Nói đến người Hà Nội không thể không nói đến
những tinh hoa của Hà Nội-những nhân sĩ trí thức. Người ta đã bàn quá nhiều về
trí thức, có những định nghĩa rất hàn lâm chỉ để cho các viện sĩ đọc và tự sung sướng, tự hào về cái danh hiệu cao
siêu đó. Mình chỉ hiểu đơn giản, trí thức phải có tầm cao hơn người thường và
có trách nhiệm dẫn dắt xã hội. Có hai yếu tố đó mới đáng gọi là trí thức.
Theo cách hiểu đó của mình, vai trò của những
“tầm cao” trong những ngày này còn hạn chế lắm. Nói thật là chưa đáp ứng được kỳ
vọng của người dân. Người dân mong chờ nhiều hơn nữa cơ. Các vị đừng chỉ đóng
khung trong những cuộc hội thảo. Giặc đã vào nhà rồi. Đấy các vị xem, chẳng lẽ
bô-xít Tây Nguyên, thuê rừng miền Tây, nuôi cá gần cảng Cam Ranh không phải là
nhà của chúng ta?
Cũng theo cách hiểu đó, cái gọi là trung tâm
kinh tế của Hà Nội đã từng có dấu ấn của bọn xâm lược. Cầu Thăng Long đang xây
thì bỏ dở nhé, bưu điện sừng sững giữa Bờ Hồ với cái đồng hồ không đánh được nhạc
nhé và bây giờ là hàng loạt những chiếc cọc bê tông cắm tua tủa lên trời như những
cây thánh giá cụt ngọn nữa. Lại nghe sắp tới còn có cả những cây cọc đóng xuống
Hồ Tây… Cái trung tâm kinh tế của cả nước luôn bị anh bạn chơi sỏ như vậy mãi
hay sao? Các nhà hoạch định chính sách của Hà Nội đang ở đâu?
Vâng, người Hà Nội hôm nay với những hình ảnh
và con người như vậy, liệu có buồn không? Thật sự thì buồn lắm. Nỗi đau đó khó
thổ lộ vì chưa thật nhiều người thông cảm. Họ nghe và mỉm cười rất bâng quơ vì
nhiều điều nó sờ sờ bày ra trước mắt. Vậy mà chẳng hiểu họ nghĩ thế nào trong đầu.
Nhưng rồi mình nghĩ, ý nghĩ có phần tươi sáng hơn, một khi người dân được biết
mọi điều, không còn bị bưng bít thông tin như hiện nay, người Hà Nội sẽ khác.
Ngày mai là ngày 19 tháng 8. Người Hà Nội ngày xưa so với ngày nay còn tăm tối
hơn nhiều, vậy mà khi họ biết quyền của họ, họ xông lên và khởi đầu cho sự
thành công cuộc cách mạng trong cả nước đó thôi.
Ngày cơn bão rớt qua ảnh trên internet





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét