“Dân biểu” là
nói theo kiểu Miền Nam .
Chẳng hiểu văn nói trong đó nó gần gũi với cuộc sống thế nào mà tôi thấy nhiều
từ Miền Nam
nay thành thông dụng ở ngoài Bắc lắm. Thí dụ nhé: “nhậu” này. Nhậu là chỉ một
cuộc ăn uống có tính đàn đúm, vui vẻ. Trong cuộc nhậu là có thể có say, có thể
có chửi đổng hoặc ăn nói xô bồ, tục tĩu một chút. Đấy là tôi cứ nói theo cách hiểu của tôi, chứ
không có lật từ điển Tiếng Việt ra tra khảo đâu. Hay như một số từ đồng nghĩa:
sả láng, tẹc ga, tới số... nói chung là nó dễ hiểu, cảm nhận được ngay, tiếp nhận
được ngay.
Nhưng cái từ
“dân biểu” mà tôi định nói đây thì hình như ít được dùng. Phát âm nó lên, tôi
như cảm thấy có điều gì đó nhạo báng, một chút hài hài thiếu tôn trọng. Chí ít
nó cũng không trịnh trọng bằng từ “đại biểu quốc hội”. Nghe từ “đại biểu quốc hội”
nó vang lên hoành tráng, hào sảng và đầy “trọng lượng”, thấy được cái sự bệ vệ, oai phong ngay. Đấy là
tôi nghĩ thế!
Nhưng “Dân biểu”
hay “Đại biểu Quốc hội” cũng chỉ có một nghĩa thôi. Cũng đấy là tôi nghĩ thế!
Vậy mà cái lão
nhà tôi lại được dân chúng trong cái khu tập thể bé nhỏ này gọi là “Ông Dân biểu”
đấy. Xét về ngữ nghĩa nôm na, nó là Đại biểu Quốc hội đấy. Oách ra phết. Xét về
công việc, chắc lão nhà tôi còn “khươn mơ lươn” mới đáng được gọi là “Dân biểu”.
Chẳng phải tôi sống chung với lão mà “gần chùa gọi bụt bằng anh”đâu. Ai chứ, lão
nhà tôi, tôi biết quá rõ!
Về hình thức bề
ngoài, lão nhà tôi quặt quẹo, ốm yếu lắm. Đàn bà con gái nhìn thấy chán ngắt.
Người thì cao đến mét bảy mà nặng chỉ có dăm chục kí dư dư. Mấy lão hàng xóm thường
sang uống nước chè, tán hươu tán vượn mọi vấn đề trên trời dưới biển cứ bảo “mông
lão đi sơ tán” rồi. Tôi nghe cũng thấy buồn cười xen lẫn cả tình thương tình yêu
nổi sóng nữa. Thầm nghĩ và tự an ủi, Trời cho lão cái tạng như vậy, phải chấp
nhận chứ biết làm thế nào. Bù vào, lão nhà tôi chẳng mấy khi đau ốm. Đấy là cái
mừng. Có chăng chỉ nhức đầu sổ mũi, ăn mấy nhánh tỏi là khỏi ngay. Lão vẫn chữa
bệnh của lão bằng tỏi. Lão rất sợ bệnh viện. Sợ vì hai lẽ: một là ở đó lắm vi
trùng, hai là ở đó, theo lão, ít thấy tình người, chỉ thấy rặt những hoàn cảnh đáng
thương và cả đáng ghét nữa. Mà cái lí do thứ hai này, lão cũng bảo là vi trùng.
Ở cái tuổi “tri thiên mệnh” đó, sức khoẻ được như vậy là tốt và đã “tri thiên mệnh”
thì cũng khó thay đổi ý nghĩ của lão lắm. Tôi cũng chẳng mong gì hơn. Cầu giời
cứ cho lão được nhì nhằng như vậy, đừng bao giờ phải vác xác đến bệnh viện để rồi
lại tự gây khó dễ cho bản thân. Mấy ông bạn nước chè của lão thì phản đối cực lực.
Tranh luận được khơi mào, dẫn chứng được đưa ra, lão nhà tôi bao giờ cũng thắng.
Mấy lão uống no nước chè xong, phán: giá như ông là “dân biểu” của chúng tôi thì
hay biết mấy!
Chẳng cứ chuyện
bệnh viện với lương y, thày lang với bác sĩ, chuyện nào của lão nhà tôi với các
ông nước chè hàng xóm cuối cùng bao giờ cũng dẫn đến một câu “giá như ông là “dân
biểu” của chúng tôi thì hay biết mấy.
Cái lão nhà tôi
rách việc là vậy, mà không hiểu sao, bà con hàng xóm hay nói chuyện với lão thế.
Mà cái lão nhà tôi cũng rỗi hơi đến kì lạ, tiếp được chuyện của cả bà cụ trên tám
mươi lẫn mấy thằng choai choai tóc nhuộm xanh nhuộm vàng, suốt ngày chửi bậy và
ngồi quán bấm điện thoại nhắn tin nhoay nhoáy. Chẳng hiểu lão tâm sự với khuyên
bảo điều gì, thấy khối thằng đầu đen trở lại.
Có một chuyện
xảy ra trong khu tập thể nhà tôi. Chẳng là từ ngày lão về nhà với chế độ một cục,
lão nhà tôi cũng phải đi kiếm ăn thêm, phần thì do nghỉ ngơi cho nên chân tay
ngứa ngáy, phần thì do cái cơ sở kinh tế không vững chắc, nhiều lúc gia cảnh cũng
túng quẫn. Đã túng thì phải tính. Lão nhà tôi đi làm bảo vệ cho một xí nghiệp gần
ngay nhà. Công việc cũng đơn giản, làm anh gác trộm, tối tối ôm chăn chiếu ra
phòng bảo vệ của xí nghiệp đánh một giấc. Chính từ cái công việc này, lão nhà tôi
được phát triển thành ông dân phòng. Từ ông dân phòng cần mẫn, chịu khó học hỏi
và chủ yếu là lão ít nhời, nhưng nhiều lí, mấy ông chính quyền có chức sắc bảo
là lão vừa khiêm tốn vừa sâu sắc, lão được cất nhắc làm tổ trưởng, cai quản dăm
ông khác nữa. Chưa kể những ngày lễ tết, có những việc đột xuất, phường phải
huy động cánh trai tráng và cánh cựu chiến binh đi làm nhiệm vụ, nhiều lần dưới
trướng lão nhà tôi cũng có đến hai chục vị.
Đất nước phát
triển, người giàu ở đâu nhiều thế. Ngắm cái sự giàu của họ, nhà tôi nằm mơ cũng
không dám. Ai lại thời buổi ngày nay, lão nhà tôi vẫn cứ cọc cạch cái xe đạp
Trung Quốc cũ kĩ. Tôi thì đã đành. Tôi chạy chợ gần nhà cho nên cũng không có đòi
hỏi nhiều. Mọi thứ trên gánh hàng của tôi đều có người mang đến. Nguồn sống
trong nhà là dựa vào gánh hàng của tôi. Lão nhà tôi luôn đưa tôi lên chín tầng
mây với cái gánh hàng rau quả ở cửa chợ. Tuy vậy, dù tôi có cố tích cóp, nhưng
vẫn chỉ mua được cho lão cái “Uây Tầu”. Lão cũng hỉ hả lắm. Nhưng lão vẫn trung
thành với con xe cũ kĩ ngày xưa. Tôi không can thiệp vào tình yêu của lão. Hình
như chính cái tình yêu chung thuỷ đó lại làm tôi yêu lão nhiều hơn.
Đằng sau cái
chợ của tôi là một bãi phế thải rộng vài nghìn mét vuông. Thời buổi tấc đất tấc
vàng mà lại để như vậy. Phí của giời! Nhưng người xót nhất lại hình như không
phải là mấy ông cầm quyền. Người xót của hàng đống mà để đó là lão nhà tôi. Lão
cùng với hội “dân phòng” của lão bàn cách đưa cái bãi chứa phế liệu của khu nhà
tôi thành cái bãi đỗ xe. Khổ một nỗi là cái sự “tế nhị” trong phường quá phức tạp.Cứ
điều gì khó nói, khó giải quyết là dân ta bảo đó là “tế nhị”. Nhiều thành phần
dính vào lắm. Dính vào là có quyền. Có thể là không to, nhưng mỗi ông một tí,
chỉ một tí thôi nhưng không chịu nhường bước. “Một tấc không đi, một li không rời”.
Mang tiếng là đất của phường, nhưng mà phường đâu có quyền quyết. Cái sự làm chủ
tập thể nó là như vậy. Đó cũng là một sự “tế nhị”.
Nguồn gốc xa xưa là mấy cái ao rau. Dần dà thành
mấy cái ao tù, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc. Dân vô gia cư và dân tứ chiếng nhảy
dù san lấp các loại ao tù nước đọng đó và những căn nhà tạm mọc lên, trong đó cũng ối mảnh đất có những ông
chủ vô hình mà chỉ có cư dân bãi rác, dân ăn ở tạm bợ, lánh nạn tạm thời, dân
anh chị đầu gấu và những người có trách nhiệm mới biết thực hư. Nhà nước mất cả
tỉ đồng dọn dẹp. Có người bảo qui hoạch là xây công viên. Người thì bảo là phải
xây lại chợ. Có cả ý kiến làm bãi đỗ xe với văn phòng hiện đại. Nhưng ý kiến ngầm
mới quan trọng, mà đã ngầm thì chỉ có thể tự hiểu, tự suy ra mà hiểu, đó có thể
là một sự hoán đổi, chia chác. Có trời mà biết được những chuyện đi đêm như thế.
Ai cũng vô tư hay là ra vẻ vô tư, thậm chí là “chí công vô tư”. Nhưng mà ai cũng
ngong ngóng chờ đợi. Cho nên bãi hoang vẫn cứ là bãi hoang. Các loại xe đời mới
đời cũ của hội nhà giàu vẫn không có chỗ gửi chính thức. Chỉ khổ chủ của chúng
mà thôi, bởi vì dù sao bọn xe mới, xe cũ đó vẫn phải có một chỗ để đỗ.
Nhà giàu càng
ngày càng nhiều. Qua số lượng ô-tô ngày càng thiếu chỗ đỗ. Sự bức thiết về chỗ đỗ
cho ô-tô lão nhà tôi đã nhận thấy. Lão còn thấy cả viễn cảnh của nó nữa kia. Nhưng
lão và hội “dân phòng” của lão thì thấp cổ bé họng. Toàn dạng hưu non với “một
cục”, đã quá “đát”cả rồi. Phường bố trí cho làm thêm để tăng thu nhập thế này đã
là quí. Một công đôi việc, cuối năm tính vào thành tích của phường, thể hiện sự
quan tâm của đảng uỷ và chính quyền trong việc tạo công ăn việc làm nâng cao mức
sống cho dân nghèo... Còn mong gì hơn nữa.
Lão thay mặt tổ
dân phòng làm một cái đơn, với danh nghĩa là để tận thu ngân sách cho phường,
xin làm cái bãi đỗ xe. Các ý kiến đóng góp bây giờ mới đổ vào, ý kiến nào cũng đúng
và cũng có lí. Như từ xưa, biết bao vấn đề được đưa ra bàn cãi rồi để đó, xem xét
sau. Đã trót thì phải trét. Vận dụng cái lí bỏ một đống của là phí phạm, là có
tội với nhân dân. Cánh lãnh đạo biết quá rõ cái lợi của bãi đất hoang nhưng lại
sợ trách nhiệm vì cũng có nghe phong thanh những ý đồ của cấp trên. Chỉ cần đợi
thời cơ. Cũng có đôi người có vẻ muốn tìm đường ra cho dự án của lão. Có người
“gà” lão phải đánh lẻ, xin ý kiến của từng ông có trách nhiệm nặng nề với dân
chúng. Cứ làm từng tí một, mưa dầm thấm lâu, gậm nhấm từng tí một. Đừng ồ ạt ra
quân...rồi đâu cũng vào đó.
Của Nhà nước, bỏ đó thì chẳng sao, đụng vào là
chính sách, vậy là phải tìm cách lách. Mà của đáng tội, chính sách là phải đợi,
qui hoạch thì phải đợi. Đợi có qui hoạch và thực thi được nó cũng chẳng biết đến
bao giờ. Chỉ có những người trong cuộc “gà” cho thì mới nhanh và thoát. Cứ vậy,
với lí luận làm lợi cho dân thế nào cũng có người ủng hộ. Rất đúng đường lối lãnh
đạo!
Lão đứng ra chịu trách nhiệm. Trách nhiệm cái
con khỉ, tôi biết rõ lão là thằng trọc đầu, nếu tội vạ đâu lão chịu, nhưng mà
thằng trọc đầu thì cũng khó xử tội, đã về vườn một lần rồi chẳng lẽ lại cho về
vườn lần nữa, có mất thì cũng chỉ mất cái chức tổ trưởng dân phòng. Ghế các vị
trên cao vẫn vững. Và như vậy là cái bãi đỗ xe dần hình thành. Một tháng một xe
vài ba trăm ngàn. Cả chục triệu, đến trăm triệu một tháng ấy chứ. Vậy là lão thành
ông chủ hờ của bãi đỗ. Tất nhiên là lão cũng có có bổng lộc, nhưng qua chế biến
của các cấp lãnh đạo, lão vẫn chỉ nhận lương tổ trưởng dân phòng thôi. Được cái
các chủ xe đời mới đời cũ cũng có người biết công lao của lão, thỉnh thoảng tí
chút, chẳng thấm tháp gì với anh nhà giàu, lão cho như vậy cũng là xứng đáng rồi.
Cái anh dân đen nhà ta dễ bảo là vậy đấy. Thực thà quá!
Vậy là không
biết từ mồm ông chủ xe nào bốc lão lên, lão được gọi là “ông đại diện” cho bãi đỗ.
Lão thay mặt chính quyền nhận giữ xe. Thế là lại thành “ông đại diện” khác, oách
hơn. Nhưng cách gọi như vậy nghe không quen, có vẻ cồng kềnh và dài dòng thế nào
ý, dần dà người ta gọi lão là đại biểu, rồi thì ngôn từ linh hoạt, thành “ông dân
biểu” lúc nào cũng không rõ.
(còn nữa)
(còn nữa)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét