VINH ANH
NẺO ĐỜI
Tiểu thuyết
1. Tình bạn được hình thành từ một “xấp, một tập hợp” những cuộc
gặp gỡ không hề có trong dự tính cuộc đời con người. May thì có thể gặp những
người tốt. Những con người mà đời bảo là “gần đèn thì rạng ”. Không may thì gặp
những kẻ xấu. Người đời bảo là “gần mực thì đen”. Tất nhiên là có cả cái phần chủ
quan của chính con người đó: Phải biết chọn bạn mà chơi. Tìm người tốt mà chơi,
mà kết bạn, kết nghĩa.
Biết cái lý của đời nó là như vậy đấy. Nhưng mà, cái
nhưng mà nhiều khi nó lấn át cái lý trí, cái mong muốn, cái kỳ vọng của con
người. Cùng một cha một mẹ sinh ra, có đứa thế này có đứa thế khác, như những
ngón tay trên một bàn tay, có ngón dài, ngón ngắn. Vẫn không thể tránh được,
trên đời, có người chỉ gặp người tốt hoặc đa phần là người tốt. Cũng có người
chỉ gặp kẻ xấu hoặc đa phần là kẻ xấu. Giải thích được điều đó là một môn khoa
học thần bí mà người nghe phải có một chút lòng tin.
Cùng với tuổi tác tăng lên, người càng già, thì càng
tin cuộc đời con người luôn bị cái gì đó ngoài ý chí chi phối, một lực lượng
siêu nhiên, thần bí nào đó điều khiển. Cách giải thích đơn giản nhưng dễ hiểu
và cũng dễ chấp nhận của đời, người ta gọi nó là “cái số”. Nghĩ mà đúng. Đố ai
tìm được lời giải rõ ràng hơn hai tiếng “cái số”. Để dẫn chứng những điều cứ tự
nhiên xảy ra, không theo một ý muốn của ai. Cũng có thể ai đó có điềm báo
trước, người ta cũng đều giải thích đó là do “cái số”.
Mà bạn bè thì có nhiều loại lắm. Từ cái thuở ba bốn
tuổi đã có thể có bạn. Lớn lên một chút,
đi học, ta có bạn học. Rồi sau đó là những người bạn khi ta đã trưởng thành, đã
biết nghĩ, biết yêu, biết ghét, biết định hướng cho tương lai. Trên đường đời,
ta cũng có thể có những người bạn sơ sơ, bạn đấy nhưng cũng chỉ như một người
quen qua đường.
Còn sống, con người còn có thể kết giao thêm nhiều bạn
bè nữa. Đó là những người đồng nghiệp. Những người này có thể quen biết rồi gắn
bó với nhau rất lâu. Có thể vài năm đến hàng chục năm. Trong thời chiến, ta có
thể có những người bạn chiến đấu cùng một chiến hào. Bạn loại này, nhiều trường
hợp từ rất sơ, có thể thành tri kỷ. Còn những người sống ở đô thị chắc không
thể có những người bạn mang nặng tình làng nghĩa xóm như ở thôn quê. Loại bạn
chăn trâu cắt cỏ-bạn quê-, bạn quê có ý nghĩa riêng trong cuộc đời
Đa phần trong cuộc sống, chúng ta chỉ gặp và có những
người bạn thoáng qua. Nhiều đấy nhưng nhạt. Có thể có sâu lắng nhưng lại có cá
tính và mấy khi cá tính đó đi đến hòa hợp. Để có những người bạn đạt đến mức độ
gọi là tri âm, tri kỉ, nói thật, không nhiều. Bởi để có được tình bạn đó, cá
nhân ta chỉ quyết định được một phần, một phần còn do bạn của ta, phần nữa do cuộc đời tạo nên.
Cái phần của ta và của bạn, đều mong muốn gìn giữ, nên chúng ta có thể điều
chỉnh ở một chừng mực nhất định, còn cái phần do đời thì đó lại ngoài ý chí con
người, cái đó do cuộc đời và số phận quyết định.
Chẳng mấy người lại mất thời gian tìm hiểu cái xuất
phát sâu xa, cội nguồn của tình bạn. Tình bạn như chỉ tự nhiên hình thành trong
cuộc sống.
Tình
bạn có khi rất bình thường cũng được bốc lên là chiến hữu. Nói vậy để cho oách.
Hiểu một cách nôm na, thì, chiến hữu phải là bạn có mùi bom đạn lửa khói, có
máu đổ và kề cận sự hiểm nguy, cái chết. Nói vậy có vẻ khó nghe. Lấy cái chết
làm thước đo tình cảm như có phần khiên cưỡng. Bom đạn chỉ có thể làm ta hiểu
nhau hơn trong một thời khắc, không hẳn quyết định. Nó có thể chỉ ra bản chất
con người. Bom đạn có thể kiểm chứng những góc khuất của con người, đôi khi,
bóc được đi lớp vỏ của con người.
Cũng có thể có người nói, không cứ phải trong lửa đạn
mới thấy được những tấm lòng chân thật của nhau. Đúng vậy! Lấy lửa đạn chỉ để
khái quát một hình ảnh dễ thông cảm nhất, dễ hiểu nhất đó là chiến tranh. Chiến
tranh khiến con người bộc lộ rõ những điều tốt xấu.
Hoa phượng và mùa hè với Nhân có một kỷ niệm không quên.
Thành phố Hải Phòng lớn thứ nhì miền Bắc với những
biểu hiện nhà máy xi măng và bến Sáu kho. Chắc hồi mới xây dựng, cảng Hải Phòng
chỉ có ngần ấy kho hàng, bé nhỏ và đơn sơ. Nhưng những năm sáu mươi, cảng Hải
Phòng là một cảng lớn. Người ta đã gọi Hải Phòng là thành phố cảng có lẽ vì lý do
đó. Chắc ngày đó không thể chỉ có sáu kho mà có thể phải vài chục kho.
“Thành phố bao tròn tuổi thơ tôi”. Nhân đã nói về nơi
chôn nhau cắt rốn mình như vậy. Đầy cả một tuổi thơ trong những ngày hè là đá
bóng, xem phim và tắm sông. Mỗi năm ba tháng hè, mọi ngóc ngách của thành phố
được bọn trẻ xới tung để… bây giờ nhớ
từng góc phố, hàng cây…
Nhưng với Nhân, thú vị nhất là những buổi tối chui vào
cái nhà có cái “đồng hồ ba chuông” trên ngọn tháp là thư viện thành phố, lục
tìm phích tên sách ở các ô kéo và mừng
rỡ khi tìm được một cuốn sách.
Cả phòng đọc rộng đến trăm mét im ắng và già nua. Nhân
nhiều lúc đã nghĩ như vậy. Tất cả những người đến đọc và mượn sách đều già, chỉ
có Nhân là trẻ con, độ đó, đứa trẻ mới mười hai, mười ba mà chui vào thư viện
thì nhìn ai mà không gìa.
Là học sinh như Nhân, để có được thẻ vào thư viện đọc
sách, phải có chứng nhận là đã tham gia xóa mù chữ cho công nhân lao động trong
những ngày hè. Mỗi tuần hai buổi tối, Nhân đã nhận làm giáo viên bình dân học
vụ, dạy chữ cho một cặp vợ chồng trung niên, lít nhít ba đứa con, cốt để lấy
được thẻ đọc sách ở cái nhà có cái “đồng hồ ba chuông” đó. Nhưng cũng chỉ được
đọc tại chỗ. Mỗi tối, người ta thấy cậu bé ngồi ở thư viện đúng ba giờ đồng hồ.
Từ sáu giờ đến chín giờ, khi thư viện
đóng cửa. Chẳng mấy khi cậu bé Nhân không có mặt ở thư viện. Nếu vắng thì chắc
chắn lại ra bãi chiếu bóng Nhân Dân tận Ngã Sáu.
Chính từ cái thư viện “đồng hồ ba chuông” và những tờ
báo nhàu nát trên chiếc bàn to của thư viện, nơi thường xuyên có những ông già
đeo kính ngồi đọc, Nhân đã tích lũy cho mình “một số mớ” kiến thức văn học và
xã hội kha khá so với các bạn cùng trang lứa.
Nhưng kỷ niệm với thành phố lại là kỷ niệm về con sông
Cấm và bến phà Bính với những cây phượng nở hoa đỏ, loại cây làm nên những mùa
hè cháy bỏng bằng sắc mầu đỏ thắm, tươi rói của những cánh hoa mong manh.
Hè năm lớp sáu, bọn Nhân mấy đứa rủ nhau đi bơi. Thấy
bọn trẻ bên sông bơi nhảy trên những chiếc phà đang đậu ngoài xa, đu mình trên
những giây chão nối tầu với bến, Nhân cũng ước ao mình có thể bơi được như
chúng nó. Muốn vậy phải tập. Nghe nói cho chuồn chuồn cắn rốn thì sẽ biết bơi,
Nhân cũng đã làm thử, nhưng người không nổi trên sông mà cứ chìm nghỉm, còn rốn
thì bị con chuồn chuồn ngô to tướng cắn chí mạng, bọn bạn được một phen cười
thỏa chí. Vậy là Nhân vẫn chỉ có thể loanh quanh bên bờ, gần bến phà.
Vài lần đi bơi, dần dà Nhân cũng nhích được vài mét
sau những cú vung tay, đá chân đập nước ầm ĩ. Hôm đó nảy nòi, vừa đi câu vừa đi
bơi. Chẳng hiểu sao đang bì bõm đập nước thi chiếc cần câu tre dài đến ba mét
ky cóp bao nhiêu lâu mới đủ tiền mua, trôi ra ngoài xa. Vậy là vì tiếc cái cần
câu, quên mình chưa “thành tài”, Nhân đập nước ra phía chiếc cần câu đang trôi
và… hụp nước liên tục, nước cứ tự động vào mồm và vào bụng. Không biết bao lâu,
cậu chới với, dưới nước, đã nghĩ đến cái chết thì may sao, lại quờ được đúng
cái cần câu và cũng chẳng hiểu tại sao, lại đạp nước vào được bên trong. Lúc đó
trên bờ, một bác công nhân đang cởi quần định nhảy xuống cứu, đuổi bọn Nhân đi.
Sau khi lên bờ mới thấy khát và cổ thì rất rát vì nước
mặn của sông. Thèm uống nước nhưng không có tiền. Bọn bạn Nhân bèn trèo phượng,
vất xuống những cành đầy hoa đỏ thắm. Khi hoa phượng nở, đài hoa xòe ra năm cánh.
Trong đó có một cánh dày hơn, có những vệt trắng kéo dài, bọn trẻ con gọi đó là
lá sữa. Lá sữa có vị chua đậm hơn những lá còn lại. Chiều hôm đó, không hiểu
Nhân đã ăn hết bao nhiều chùm hoa, chỉ biết khi về đến nhà, bụng cứ ưng ức.
Chuyện đó, cậu chàng im tịt, không hé với một ai.
Hoa phượng với tuổi học trò của Nhân không chỉ “tươi
như phượng nở còn nằm trên cây” mà còn “chứa đầy những dòng sữa chua ngọt lạ
lùng” nữa.
Hè năm sau, Nhân được tuyển vào bộ đội, hệ thiếu sinh
quân. Vậy là đột ngột vĩnh biệt tuổi học trò.
Khác Nhân, Ngân biết bơi từ khi nào không nhớ. “Tao
không có một ngày học bơi, máu lang thang phiêu bạt, biết bơi hay biết chạy đều
như nhau”. Đánh bạn với bọn chơi khăng, đánh đáo, không có người kèm cặp đèn
sách, vì thế kiến thức rất lỗ mỗ. Ngân có cuộc sống khá tự do mà Nhân bảo là
Ngân có sẵn dòng máu của dân Di gan. Tài lẻ duy nhất thể hiện ở giọng nói
truyền cảm, học lỏm được từ ông già, thuyết minh phim, đồng thời cũng là chủ
rạp chiếu phim ống nhòm, quanh quẩn khắp các trường học và chợ nhà quê. “Ông
già là người đầu tiên đưa tao vào trường đời, dạy tao cách đối nhân xử thế theo
kiểu “Không gia đình” của Héc-tô Ma-lô. Chính ông lão bắt tao học hành nghiêm
chỉnh: “Phải đạt điểm khá mới cho đi theo thuyết minh”. Tao cảm thấy ông ấy hao
hao ông già làm xiếc trong “Không gia đình” lắm. Tao rất muốn có một con chó
tinh khôn như của ông ấy. Các cậu biết không, chó là một con vật trung thành
nhất đấy. Với súc vật, người đời dùng những ngôn từ đẹp nhất để nói về sự thủy
chung của chúng. “Chó không chê chủ nhà nghèo” là một ví dụ”.
Mẹ Ngân làm nông nghiệp. Nhà chỉ có hai mẹ con, bố một
đời tít tắp vùng biên ải. Một năm về phép một lần, toàn nói chuyện núi rừng với
muông thú. Hỏi cây gì bố cũng biết, từ cây làm thuốc chữa bệnh đến cây làm nhà.
Bố kể về cái nơi mà đồng bào dân tộc phải cậy đá để trồng ngô. Đồng bào khổ
lắm, bố muốn cùng chia sẻ nỗi khổ đó với họ, giúp họ cách làm ăn mới.
Bố Ngân có tình yêu đặc biệt với núi rừng, vì thế ngay
từ bé, Ngân cũng được lây cái chất “bạt ngàn phóng khoáng” của những câu chuyện
cổ về những cánh rừng đầy bí ẩn thâm u nhưng lúc nào cũng sẽ có một ông bụt hay
một bà tiên hiện ra, giúp đỡ kẻ nghèo gặp khốn khó. Tính phóng khoáng và thích
giao du, thương người cũng bắt nguồn từ những câu chuyện mà bố kể cho nghe từ
nhỏ. Ông bố của núi rừng Tây Bắc đó đâu có biết những câu chuyện kể của mình
lại gắn chặt với đời thằng con duy nhất.
Ông cũng không ngờ, trong đầu óc non nớt thằng con đã
thành một vết nhăn để nó gắn bó và nhớ mãi. Ngân luôn hỏi ông cách đi rừng, xác
định phương hướng và rất tò mò chuyện về các “thống lý” người Mèo, về cái oai,
cái thiêng của các ông vua Mèo. Cậu rất
thích nghe tiếng sáo Mèo. Nghe tiếng sáo, cậu như thấy những âm thanh
vang vọng trầm hùng của núi rừng, tiếng mưa đổ ào ào như thác hay tiếng véo von
của những con chim rất to, rất lạ trên những đỉnh núi mù mây. Cậu cũng luôn
tưởng tượng và cho rằng những người mặc quần áo sặc sỡ, đeo rất nhiều vòng cổ,
vòng tai đó là những người có nhiều phép bùa chú, có thể khiến người ta bị mê
hoặc.
Bởi vậy, nên khi các bạn hỏi, ấn tượng nhất của Ngân
ngày nhỏ là gì, trò chơi nào cậu thích nhất, khi chỉ thấy cậu “lêu lổng” suốt
ngày trên đường, Ngân trả lời làm các bạn hết sức ngạc nhiên, đó là những câu
chuyện bố kể về núi rừng. Bởi bố về rất ít nên đâm nhớ nhiều. Càng hiểu nhiều,
biết nhiều càng thương nỗi vất vả của bố. Thương bố nên nghĩ đến làng quê nhiều
hơn “Các cậu nghĩ xem, chúng mình mới xa nhà mấy ngày mà đã nhớ lắm rồi, muốn
về lắm rồi. Có lẽ nếu về cũng chẳng làm được gì cho mẹ cả, nhưng mà được gặp
laị những cái thân quen, con đường làng phủ tre xanh và đầy cứt trâu, cái ao
làng mình từng xuống hôi cá, nó khuây khỏa, vợi đi cái thương, nỗi nhớ. Các cậu
dân thành phố, không có những tình cảm như tớ đâu. Người làng quê chân thật và
giản dị lắm. Tớ chỉ cần về đến đầu làng là ở nhà mẹ tớ đã biết rồi cơ.”
Trong Ngân như có hai con người. Con người của xã hội,
do tiếp xúc va chạm nhiều với đời và con người làng quê, rất bình dị, chân
thành.
Gia cảnh Ngọc cũng không khác mấy gia cảnh Nhân. Trước
cách mạng, gia đình thuộc diện khá giả, dòng dõi. Bố Ngọc được nuôi ăn học
trong một gia đình no đủ, đã lấy bằng “đíp-lôm” và đã cưới một người vợ con nhà
gia giáo. Chuyện bố mẹ yêu nhau mãi vào một tối ba mươi tết, bên nồi bánh
chưng, bố không về nhà, mẹ mới kể cho hai anh em Ngọc nghe. Ngọc rất thích tình
yêu kiểu học trò đó của bố và mẹ. Sau khi lấy vợ, bố Ngọc vẫn học tiếp để lấy
bằng tú tài. Cách mạng thành công, như bao thanh niên khác ngày đó, ông xếp bút
nghiên, gia nhập lực lượng cách mạng, vào vệ quốc đoàn. Kháng chiến bùng nổ,
ông theo đơn vị. Gia đình tản cư vào Thanh, vùng đất mà quân đội Pháp chưa
chiếm được, gọi là vùng tự do của chính quyền cách mạng. Ngày đó Ngọc mới bi bô
tập nói.
Ở vùng tự do Thanh Hóa, Ngọc được học hành tử tế hơn
những nơi khác. Hòa bình lập lại, theo bố mẹ về Nam Định. Ngày ra đi còn bé tí, mẹ
đặt cậu trong cái thúng thuê người gánh. Ngày về, cậu bé đó bây giờ đã là
“thanh niên chững chạc mười tuổi”. Từ ngày bé, Ngọc đã có khuôn mặt già dặn hơn
các bạn, nên gia đình Ngọc gọi cậu là “thanh niên” là vậy.
Ngọc ít nói nhưng lại chịu khó suy nghĩ. Nghe các bạn
nói, Ngọc rất nhớ. Các bạn bày tỏ quan điểm về một vấn đề gì đó, Ngọc nhớ rất
lâu và trong đầu vẫn có chính kiến, suy
nghĩ riêng. Chỉ khi ai hỏi đến hoặc đôi lúc phải nói, Ngọc mới thể hiện. Biểu
hiện rõ nhất là hồi học chuyện Tấm Cám, đoạn kết câu chuyện, học sinh dường như
chỉ đọc để cho biết kết thúc câu chuyện, Tấm sẽ đối xử với Cám như thế nào là
xong. Không có ai đặt ngược lại vấn đề, kết thúc câu chuyện hay hay dở. Chỉ
riêng mình Ngọc xin phát biểu, cậu cho rằng cách xử lý của Tấm không phù hợp
với tấm lòng vị tha, đôn hậu, nhân đạo của phụ nữ Việt Nam . Tuy rằng ở ta, các cụ xưa, có
nhiều câu răn dạy “ác giả ác báo; gieo gió gặt bão” đấy. Nhưng nếu kết thúc,
Tấm tha thứ mọi tội lỗi của mẹ con nhà Cám, mẹ con Cám cải tà quy chính thì vẫn
hậu hơn và con người hơn.
Ý kiến của Ngọc làm cô giáo sững sờ, ngạc nhiên thật
sự. Các bạn cùng học thì khỏi phải nói, đầu tiên thì ồn ào bàn tán, sau thì im
ắng hẳn. Cô giáo hỏi tại sao em lại có suy nghĩ đó? Ngọc trả lời vì ai cũng
muốn cuối cùng mọi việc đều tốt đẹp, nên em mới nghĩ cách xử lý của Tấm có phần
không đúng với tâm hồn đôn hậu, luôn sẵn lòng tha thứ để phục thiện của phụ nữ
Việt Nam. Cô giáo đã cho Ngọc “điểm năm” để khích lệ cách suy nghĩ độc đáo, có
tìm tòi. Ngọc tự hào lắm, nhưng cậu không hề khoe với mẹ. Chỉ khi cô giáo vì
mến cậu học sinh, đến thăm, mẹ mới biết chuyện.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét