Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

TIỂU THUYẾT NẺO ĐỜI ( 1-2 tiểu thuyết )


VINH ANH

 

                    NẺO ĐỜI         

Tiểu thuyết

            

 

1. Tình bạn được hình thành từ một “xấp, một tập hợp” những cuộc gặp gỡ không hề có trong dự tính cuộc đời con người. May thì có thể gặp những người tốt. Những con người mà đời bảo là “gần đèn thì rạng ”. Không may thì gặp những kẻ xấu. Người đời bảo là “gần mực thì đen”. Tất nhiên là có cả cái phần chủ quan của chính con người đó: Phải biết chọn bạn mà chơi. Tìm người tốt mà chơi, mà kết bạn, kết nghĩa.

Biết cái lý của đời nó là như vậy đấy. Nhưng mà, cái nhưng mà nhiều khi nó lấn át cái lý trí, cái mong muốn, cái kỳ vọng của con người. Cùng một cha một mẹ sinh ra, có đứa thế này có đứa thế khác, như những ngón tay trên một bàn tay, có ngón dài, ngón ngắn. Vẫn không thể tránh được, trên đời, có người chỉ gặp người tốt hoặc đa phần là người tốt. Cũng có người chỉ gặp kẻ xấu hoặc đa phần là kẻ xấu. Giải thích được điều đó là một môn khoa học thần bí mà người nghe phải có một chút lòng tin.

Cùng với tuổi tác tăng lên, người càng già, thì càng tin cuộc đời con người luôn bị cái gì đó ngoài ý chí chi phối, một lực lượng siêu nhiên, thần bí nào đó điều khiển. Cách giải thích đơn giản nhưng dễ hiểu và cũng dễ chấp nhận của đời, người ta gọi nó là “cái số”. Nghĩ mà đúng. Đố ai tìm được lời giải rõ ràng hơn hai tiếng “cái số”. Để dẫn chứng những điều cứ tự nhiên xảy ra, không theo một ý muốn của ai. Cũng có thể ai đó có điềm báo trước, người ta cũng đều giải thích đó là do “cái số”.

Mà bạn bè thì có nhiều loại lắm. Từ cái thuở ba bốn tuổi đã có thể có bạn.  Lớn lên một chút, đi học, ta có bạn học. Rồi sau đó là những người bạn khi ta đã trưởng thành, đã biết nghĩ, biết yêu, biết ghét, biết định hướng cho tương lai. Trên đường đời, ta cũng có thể có những người bạn sơ sơ, bạn đấy nhưng cũng chỉ như một người quen qua đường.

Còn sống, con người còn có thể kết giao thêm nhiều bạn bè nữa. Đó là những người đồng nghiệp. Những người này có thể quen biết rồi gắn bó với nhau rất lâu. Có thể vài năm đến hàng chục năm. Trong thời chiến, ta có thể có những người bạn chiến đấu cùng một chiến hào. Bạn loại này, nhiều trường hợp từ rất sơ, có thể thành tri kỷ. Còn những người sống ở đô thị chắc không thể có những người bạn mang nặng tình làng nghĩa xóm như ở thôn quê. Loại bạn chăn trâu cắt cỏ-bạn quê-, bạn quê có ý nghĩa riêng trong cuộc đời

Đa phần trong cuộc sống, chúng ta chỉ gặp và có những người bạn thoáng qua. Nhiều đấy nhưng nhạt. Có thể có sâu lắng nhưng lại có cá tính và mấy khi cá tính đó đi đến hòa hợp. Để có những người bạn đạt đến mức độ gọi là tri âm, tri kỉ, nói thật, không nhiều. Bởi để có được tình bạn đó, cá nhân ta chỉ quyết định được một phần, một phần còn  do bạn của ta, phần nữa do cuộc đời tạo nên. Cái phần của ta và của bạn, đều mong muốn gìn giữ, nên chúng ta có thể điều chỉnh ở một chừng mực nhất định, còn cái phần do đời thì đó lại ngoài ý chí con người, cái đó do cuộc đời và số phận quyết định.

Chẳng mấy người lại mất thời gian tìm hiểu cái xuất phát sâu xa, cội nguồn của tình bạn. Tình bạn như chỉ tự nhiên hình thành trong cuộc sống.  

          Tình bạn có khi rất bình thường cũng được bốc lên là chiến hữu. Nói vậy để cho oách. Hiểu một cách nôm na, thì, chiến hữu phải là bạn có mùi bom đạn lửa khói, có máu đổ và kề cận sự hiểm nguy, cái chết. Nói vậy có vẻ khó nghe. Lấy cái chết làm thước đo tình cảm như có phần khiên cưỡng. Bom đạn chỉ có thể làm ta hiểu nhau hơn trong một thời khắc, không hẳn quyết định. Nó có thể chỉ ra bản chất con người. Bom đạn có thể kiểm chứng những góc khuất của con người, đôi khi, bóc được đi lớp vỏ của con người.

Cũng có thể có người nói, không cứ phải trong lửa đạn mới thấy được những tấm lòng chân thật của nhau. Đúng vậy! Lấy lửa đạn chỉ để khái quát một hình ảnh dễ thông cảm nhất, dễ hiểu nhất đó là chiến tranh. Chiến tranh khiến con người bộc lộ rõ những điều tốt xấu.

 

 2. Họ là học sinh còn ham chơi, ra đời vào mùa cách mạng tháng tám bốn nhăm. Mới thi xong cấp hai, đang đón mùa hè đỏ rực hoa phượng của thời học trò. “Tươi như phượng nở còn nằm trên cây” trong cuốn sổ lưu bút của đôi ba người trong số họ, có dòng thơ đó của người bạn cùng lớp. Đọc lại và bỗng như thấy tiếc, man mác một nỗi buồn dìu dịu, một cái gì mới phôi thai, vừa chớm nở đã tuột mất.

Hoa phượng và mùa hè với Nhân có một kỷ niệm không quên.

Thành phố Hải Phòng lớn thứ nhì miền Bắc với những biểu hiện nhà máy xi măng và bến Sáu kho. Chắc hồi mới xây dựng, cảng Hải Phòng chỉ có ngần ấy kho hàng, bé nhỏ và đơn sơ. Nhưng những năm sáu mươi, cảng Hải Phòng là một cảng lớn. Người ta đã gọi Hải Phòng là thành phố cảng có lẽ vì lý do đó. Chắc ngày đó không thể chỉ có sáu kho mà có thể phải vài chục kho.

“Thành phố bao tròn tuổi thơ tôi”. Nhân đã nói về nơi chôn nhau cắt rốn mình như vậy. Đầy cả một tuổi thơ trong những ngày hè là đá bóng, xem phim và tắm sông. Mỗi năm ba tháng hè, mọi ngóc ngách của thành phố được bọn trẻ  xới tung để… bây giờ nhớ từng góc phố, hàng cây…

Nhưng với Nhân, thú vị nhất là những buổi tối chui vào cái nhà có cái “đồng hồ ba chuông” trên ngọn tháp là thư viện thành phố, lục tìm phích tên sách ở các ô kéo và  mừng rỡ khi tìm được một cuốn sách.

Cả phòng đọc rộng đến trăm mét im ắng và già nua. Nhân nhiều lúc đã nghĩ như vậy. Tất cả những người đến đọc và mượn sách đều già, chỉ có Nhân là trẻ con, độ đó, đứa trẻ mới mười hai, mười ba mà chui vào thư viện thì nhìn ai mà không gìa.

Là học sinh như Nhân, để có được thẻ vào thư viện đọc sách, phải có chứng nhận là đã tham gia xóa mù chữ cho công nhân lao động trong những ngày hè. Mỗi tuần hai buổi tối, Nhân đã nhận làm giáo viên bình dân học vụ, dạy chữ cho một cặp vợ chồng trung niên, lít nhít ba đứa con, cốt để lấy được thẻ đọc sách ở cái nhà có cái “đồng hồ ba chuông” đó. Nhưng cũng chỉ được đọc tại chỗ. Mỗi tối, người ta thấy cậu bé ngồi ở thư viện đúng ba giờ đồng hồ. Từ sáu giờ  đến chín giờ, khi thư viện đóng cửa. Chẳng mấy khi cậu bé Nhân không có mặt ở thư viện. Nếu vắng thì chắc chắn lại ra bãi chiếu bóng Nhân Dân tận Ngã Sáu.

Chính từ cái thư viện “đồng hồ ba chuông” và những tờ báo nhàu nát trên chiếc bàn to của thư viện, nơi thường xuyên có những ông già đeo kính ngồi đọc, Nhân đã tích lũy cho mình “một số mớ” kiến thức văn học và xã hội kha khá so với các bạn cùng trang lứa.

Nhưng kỷ niệm với thành phố lại là kỷ niệm về con sông Cấm và bến phà Bính với những cây phượng nở hoa đỏ, loại cây làm nên những mùa hè cháy bỏng bằng sắc mầu đỏ thắm, tươi rói của những cánh hoa mong manh.

Hè năm lớp sáu, bọn Nhân mấy đứa rủ nhau đi bơi. Thấy bọn trẻ bên sông bơi nhảy trên những chiếc phà đang đậu ngoài xa, đu mình trên những giây chão nối tầu với bến, Nhân cũng ước ao mình có thể bơi được như chúng nó. Muốn vậy phải tập. Nghe nói cho chuồn chuồn cắn rốn thì sẽ biết bơi, Nhân cũng đã làm thử, nhưng người không nổi trên sông mà cứ chìm nghỉm, còn rốn thì bị con chuồn chuồn ngô to tướng cắn chí mạng, bọn bạn được một phen cười thỏa chí. Vậy là Nhân vẫn chỉ có thể loanh quanh bên bờ, gần bến phà.

Vài lần đi bơi, dần dà Nhân cũng nhích được vài mét sau những cú vung tay, đá chân đập nước ầm ĩ. Hôm đó nảy nòi, vừa đi câu vừa đi bơi. Chẳng hiểu sao đang bì bõm đập nước thi chiếc cần câu tre dài đến ba mét ky cóp bao nhiêu lâu mới đủ tiền mua, trôi ra ngoài xa. Vậy là vì tiếc cái cần câu, quên mình chưa “thành tài”, Nhân đập nước ra phía chiếc cần câu đang trôi và… hụp nước liên tục, nước cứ tự động vào mồm và vào bụng. Không biết bao lâu, cậu chới với, dưới nước, đã nghĩ đến cái chết thì may sao, lại quờ được đúng cái cần câu và cũng chẳng hiểu tại sao, lại đạp nước vào được bên trong. Lúc đó trên bờ, một bác công nhân đang cởi quần định nhảy xuống cứu, đuổi bọn Nhân đi.

Sau khi lên bờ mới thấy khát và cổ thì rất rát vì nước mặn của sông. Thèm uống nước nhưng không có tiền. Bọn bạn Nhân bèn trèo phượng, vất xuống những cành đầy hoa đỏ thắm. Khi hoa phượng nở, đài hoa xòe ra năm cánh. Trong đó có một cánh dày hơn, có những vệt trắng kéo dài, bọn trẻ con gọi đó là lá sữa. Lá sữa có vị chua đậm hơn những lá còn lại. Chiều hôm đó, không hiểu Nhân đã ăn hết bao nhiều chùm hoa, chỉ biết khi về đến nhà, bụng cứ ưng ức. Chuyện đó, cậu chàng im tịt, không hé với một ai.

Hoa phượng với tuổi học trò của Nhân không chỉ “tươi như phượng nở còn nằm trên cây” mà còn “chứa đầy những dòng sữa chua ngọt lạ lùng” nữa.

Hè năm sau, Nhân được tuyển vào bộ đội, hệ thiếu sinh quân. Vậy là đột ngột vĩnh biệt tuổi học trò.

 

Khác Nhân, Ngân biết bơi từ khi nào không nhớ. “Tao không có một ngày học bơi, máu lang thang phiêu bạt, biết bơi hay biết chạy đều như nhau”. Đánh bạn với bọn chơi khăng, đánh đáo, không có người kèm cặp đèn sách, vì thế kiến thức rất lỗ mỗ. Ngân có cuộc sống khá tự do mà Nhân bảo là Ngân có sẵn dòng máu của dân Di gan. Tài lẻ duy nhất thể hiện ở giọng nói truyền cảm, học lỏm được từ ông già, thuyết minh phim, đồng thời cũng là chủ rạp chiếu phim ống nhòm, quanh quẩn khắp các trường học và chợ nhà quê. “Ông già là người đầu tiên đưa tao vào trường đời, dạy tao cách đối nhân xử thế theo kiểu “Không gia đình” của Héc-tô Ma-lô. Chính ông lão bắt tao học hành nghiêm chỉnh: “Phải đạt điểm khá mới cho đi theo thuyết minh”. Tao cảm thấy ông ấy hao hao ông già làm xiếc trong “Không gia đình” lắm. Tao rất muốn có một con chó tinh khôn như của ông ấy. Các cậu biết không, chó là một con vật trung thành nhất đấy. Với súc vật, người đời dùng những ngôn từ đẹp nhất để nói về sự thủy chung của chúng. “Chó không chê chủ nhà nghèo” là một ví dụ”.

Mẹ Ngân làm nông nghiệp. Nhà chỉ có hai mẹ con, bố một đời tít tắp vùng biên ải. Một năm về phép một lần, toàn nói chuyện núi rừng với muông thú. Hỏi cây gì bố cũng biết, từ cây làm thuốc chữa bệnh đến cây làm nhà. Bố kể về cái nơi mà đồng bào dân tộc phải cậy đá để trồng ngô. Đồng bào khổ lắm, bố muốn cùng chia sẻ nỗi khổ đó với họ, giúp họ cách làm ăn mới.

Bố Ngân có tình yêu đặc biệt với núi rừng, vì thế ngay từ bé, Ngân cũng được lây cái chất “bạt ngàn phóng khoáng” của những câu chuyện cổ về những cánh rừng đầy bí ẩn thâm u nhưng lúc nào cũng sẽ có một ông bụt hay một bà tiên hiện ra, giúp đỡ kẻ nghèo gặp khốn khó. Tính phóng khoáng và thích giao du, thương người cũng bắt nguồn từ những câu chuyện mà bố kể cho nghe từ nhỏ. Ông bố của núi rừng Tây Bắc đó đâu có biết những câu chuyện kể của mình lại gắn chặt với đời thằng con duy nhất.

Ông cũng không ngờ, trong đầu óc non nớt thằng con đã thành một vết nhăn để nó gắn bó và nhớ mãi. Ngân luôn hỏi ông cách đi rừng, xác định phương hướng và rất tò mò chuyện về các “thống lý” người Mèo, về cái oai, cái thiêng của các ông vua Mèo. Cậu rất  thích nghe tiếng sáo Mèo. Nghe tiếng sáo, cậu như thấy những âm thanh vang vọng trầm hùng của núi rừng, tiếng mưa đổ ào ào như thác hay tiếng véo von của những con chim rất to, rất lạ trên những đỉnh núi mù mây. Cậu cũng luôn tưởng tượng và cho rằng những người mặc quần áo sặc sỡ, đeo rất nhiều vòng cổ, vòng tai đó là những người có nhiều phép bùa chú, có thể khiến người ta bị mê hoặc.

Bởi vậy, nên khi các bạn hỏi, ấn tượng nhất của Ngân ngày nhỏ là gì, trò chơi nào cậu thích nhất, khi chỉ thấy cậu “lêu lổng” suốt ngày trên đường, Ngân trả lời làm các bạn hết sức ngạc nhiên, đó là những câu chuyện bố kể về núi rừng. Bởi bố về rất ít nên đâm nhớ nhiều. Càng hiểu nhiều, biết nhiều càng thương nỗi vất vả của bố. Thương bố nên nghĩ đến làng quê nhiều hơn “Các cậu nghĩ xem, chúng mình mới xa nhà mấy ngày mà đã nhớ lắm rồi, muốn về lắm rồi. Có lẽ nếu về cũng chẳng làm được gì cho mẹ cả, nhưng mà được gặp laị những cái thân quen, con đường làng phủ tre xanh và đầy cứt trâu, cái ao làng mình từng xuống hôi cá, nó khuây khỏa, vợi đi cái thương, nỗi nhớ. Các cậu dân thành phố, không có những tình cảm như tớ đâu. Người làng quê chân thật và giản dị lắm. Tớ chỉ cần về đến đầu làng là ở nhà mẹ tớ đã biết rồi cơ.”

Trong Ngân như có hai con người. Con người của xã hội, do tiếp xúc va chạm nhiều với đời và con người làng quê, rất bình dị, chân thành.

 

Gia cảnh Ngọc cũng không khác mấy gia cảnh Nhân. Trước cách mạng, gia đình thuộc diện khá giả, dòng dõi. Bố Ngọc được nuôi ăn học trong một gia đình no đủ, đã lấy bằng “đíp-lôm” và đã cưới một người vợ con nhà gia giáo. Chuyện bố mẹ yêu nhau mãi vào một tối ba mươi tết, bên nồi bánh chưng, bố không về nhà, mẹ mới kể cho hai anh em Ngọc nghe. Ngọc rất thích tình yêu kiểu học trò đó của bố và mẹ. Sau khi lấy vợ, bố Ngọc vẫn học tiếp để lấy bằng tú tài. Cách mạng thành công, như bao thanh niên khác ngày đó, ông xếp bút nghiên, gia nhập lực lượng cách mạng, vào vệ quốc đoàn. Kháng chiến bùng nổ, ông theo đơn vị. Gia đình tản cư vào Thanh, vùng đất mà quân đội Pháp chưa chiếm được, gọi là vùng tự do của chính quyền cách mạng. Ngày đó Ngọc mới bi bô tập nói.

Ở vùng tự do Thanh Hóa, Ngọc được học hành tử tế hơn những nơi khác. Hòa bình lập lại, theo bố mẹ về Nam Định. Ngày ra đi còn bé tí, mẹ đặt cậu trong cái thúng thuê người gánh. Ngày về, cậu bé đó bây giờ đã là “thanh niên chững chạc mười tuổi”. Từ ngày bé, Ngọc đã có khuôn mặt già dặn hơn các bạn, nên gia đình Ngọc gọi cậu là “thanh niên” là vậy.

Ngọc ít nói nhưng lại chịu khó suy nghĩ. Nghe các bạn nói, Ngọc rất nhớ. Các bạn bày tỏ quan điểm về một vấn đề gì đó, Ngọc nhớ rất lâu và trong đầu  vẫn có chính kiến, suy nghĩ riêng. Chỉ khi ai hỏi đến hoặc đôi lúc phải nói, Ngọc mới thể hiện. Biểu hiện rõ nhất là hồi học chuyện Tấm Cám, đoạn kết câu chuyện, học sinh dường như chỉ đọc để cho biết kết thúc câu chuyện, Tấm sẽ đối xử với Cám như thế nào là xong. Không có ai đặt ngược lại vấn đề, kết thúc câu chuyện hay hay dở. Chỉ riêng mình Ngọc xin phát biểu, cậu cho rằng cách xử lý của Tấm không phù hợp với tấm lòng vị tha, đôn hậu, nhân đạo của phụ nữ Việt Nam. Tuy rằng ở ta, các cụ xưa, có nhiều câu răn dạy “ác giả ác báo; gieo gió gặt bão” đấy. Nhưng nếu kết thúc, Tấm tha thứ mọi tội lỗi của mẹ con nhà Cám, mẹ con Cám cải tà quy chính thì vẫn hậu hơn và con người hơn.

Ý kiến của Ngọc làm cô giáo sững sờ, ngạc nhiên thật sự. Các bạn cùng học thì khỏi phải nói, đầu tiên thì ồn ào bàn tán, sau thì im ắng hẳn. Cô giáo hỏi tại sao em lại có suy nghĩ đó? Ngọc trả lời vì ai cũng muốn cuối cùng mọi việc đều tốt đẹp, nên em mới nghĩ cách xử lý của Tấm có phần không đúng với tâm hồn đôn hậu, luôn sẵn lòng tha thứ để phục thiện của phụ nữ Việt Nam. Cô giáo đã cho Ngọc “điểm năm” để khích lệ cách suy nghĩ độc đáo, có tìm tòi. Ngọc tự hào lắm, nhưng cậu không hề khoe với mẹ. Chỉ khi cô giáo vì mến cậu học sinh, đến thăm, mẹ mới biết chuyện.

 

                                               

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét