Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 21 tháng 9, 2013

VỀ LÀNG (bút ký)



Cuối tuần về làng cho khuây khỏa VA




Về làng

 Bút ký                                     

                                                                                     
Tôi về làng vào một buổi sớm. Chuyến đi về thăm quê một người bạn cùng chiến đấu năm xưa. Với tôi, quê là tuổi thơ với những cánh đồng lúa, với những đứa bạn chăn trâu cắt cỏ, với những buổi trưa hè bơi trên dòng sông nhỏ vờn quanh bờ đê bên làng, với những buổi gió đông rét buốt ra đồng bắt chuột rồi cùng nhau nổi lửa bọc đất nướng ăn. Quê là như vậy với tôi. Còn với nhiều người, chắc chưa đầy đủ, nhưng với tôi, kỉ niệm thời thơ bé ở một đứa trẻ lên mười, so với anh em và bạn bè sau này tôi quen biết, đã là quá nhiều.

Xe chạy nhanh trên đường vắng ra ngoại thành. Làng quê hai bên đường nơi giáp ranh giữa thành thị và nông thôn này đã “phố hoá”. Cái cảnh nửa tỉnh nửa quê cứ anh ách,  không cho tôi hưởng không khí ngoại thành buổi sớm trọn vẹn. Ngoại thành với tôi cũng “xa” không kém gì làng quê. Ngoại thành thật ra cũng đã là làng quê. Thoang thoảng bay là mùi hương nằng nặng của những cánh đồng rau đang vào thời kì bón lót. Gió đưa, đôi khi ùa vào mặt vào mũi cái mùi khó chịu. Nhưng chủ đạo vẫn là gió mát, gió trong lành và thơm thảo. Gió đồng là thế. Không hiểu gió từ đâu mà cứ ra đồng là có gió. Gió quyến rũ và làm say mê lòng người làm vậy.Yêu là vậy, thương là vậy, đắm say khắc khoải là vậy, vậy mà người thành phố lạ thế, không bỏ được cái sự ồn ào và bụi bặm. Nhớ quê, hoặc tết nhất giỗ chạp gì đó, chỉ thoáng đảo qua quê một chốc một lát , rồi lại tất tả lôi kéo nhau về với phố phường bụi bặm.

Chuyến này tôi đi khá xa, cách “hang ổ” của tôi những bảy chục cây số. Tôi về một vùng quê thuần khiết của đồng bằng Bắc Bộ, vùng chiêm khê mùa thối, người dân lam lũ, vất vả, hai sương một nắng cả đời. Tôi nói vậy không biết có quá không, nhưng đầu óc tôi lúc nào cũng thế. Cứ nghĩ đến nông dân là tôi thấy cái cảnh nghèo, mặc dù cái nghèo ngày nay khác xưa. Nhưng vẫn nghèo, và thậm chí, nhiều vùng tôi đến còn rất nghèo. Cái nghèo của người nông dân luôn chủ đạo trong ý nghĩ của tôi.

Gần tới đích. Đôi lúc trên đường huyện, xe đi qua những con sông nhỏ. Và thấy, một mầu đen đặc xỉn của nền công nghiệp hoá tạo ra cho nông thôn. Giải lụa xanh mà người ta vẫn ví để chỉ dòng sông đâu rồi. Đây chỉ còn là giải lụa đen. Tôi dừng xe hỏi thăm. Hoá ra quanh quẩn đây vẫn là sông Đáy, người dân hôm nay không dùng được nước con sông này cho sinh hoạt nữa. Con sông mà anh phi công ngày nào bàng hoàng ngỡ mình bay trên gấm vóc, nghiêng cánh vẫy chào giải đất quê lụa đã vào thơ ca lại là đây ư? Tôi cũng bàng hoàng giật mình, nhìn mầu đen của dòng sông mà lòng nhức nhối, đã đến mức này ư? Không hiểu đã phải là tai hoạ?

Gần tới Phủ Lý. Thị xã ngày xưa giờ đã là thành phố. Cái khúc cua quanh quanh và con đường sắt chạy qua, rất dễ nhận biết trước khi vào thị xã ngày xưa, giờ thay đổi không nhận ra được. Đường lớn rộng mở. Đẹp và khang trang hơn ngày xưa nhiều lắm. Nơi đây có đặc sản bánh cuốn. Mới hồi nào chỉ có vài quán hàng bâu lấy khu vực hành chính của thị xã, thì nay đã phát triển thành một dãy phố bên đường. Từ Hà Nội vào phải đi qua dãy phố này. Nhớ về Phủ Lý bây giờ là nhớ bánh cuốn chả. Còn thị xã êm đềm ngày xưa, Phủ Lý chỉ là một dãy phố với vài hàng quán lèo tèo, chưa đi đã hết. Khác nhau biết là bao nhiêu!

Bỏ lại mấy toà nhà to cao, tượng trưng cho quyền lực và sự vươn dậy của Phủ Lý, chúng tôi rẽ vào con đường nhỏ. Đường hẹp, xe đi chầm chậm. Cánh đồng quê đập ngay vào mắt. Mát rượi cả tâm hồn và thể xác. Cứ thấy cánh đồng xanh là lòng tôi như mềm lại. Đang căng lồng ngực đón các ngọn gió quê thơm mát, trong trẻo thì lại bập ngay cái ba-ri-e lệ phí. Cũng như ai, vào đây là phải nộp phí. Chẳng hiểu lệ làng hay phép vua. Nhưng ở đây là thế. Chẳng cứ gì đây, cũng đôi nơi tôi biết có cái dạng phí này.

Bỏ qua những ấm ức đi để mà đón một ngày mới. Đường làng nhỏ. Xe máy vô tư phóng. Ô-tô con hai chiếc tránh nhau phải tìm chỗ. Đường làng quê là thế thôi. Tôi cảm thấy đường làng “đẹp và thơ” quá. Những dậu duối xanh và những bông hoa tím điểm xuyết làm hàng rào, những cây bưởi núc nỉu quả đang chờ trung thu, vài cây xoan gày gò và ngoài xa kia là bãi bồi của sông, thấp thoáng những con thuyền lẻ loi…

Chúng tôi gửi xe. Từ đây đến nhà anh bạn còn chừng một cây số. Chợt nhận thấy nên đi một mình để bình tâm nhìn ngắm. Cũng đôi khi, người ta không muốn nhưng vẫn có những hành động có vẻ lập dị như vậy. Tôi xuống xe, rẽ vào con đường nhỏ. Rặng nhãn còi cọc, chắc là sản phẩm từ ngày còn hợp tác chạy dài tít tắp, dễ chừng đến nửa cây số. Đường đất, lối đi nhỏ gồ ghề làm tôi thấy đậm cái chất “ngày xưa”. Con đường ngày xưa đang gõ vào lòng tôi. Đường ngày xưa chỉ để đi xe đạp, kéo xe bò và đẩy xe cút kít. Tôi nhận biết cái sự gồ ghề lồi lõm qua tiếng lóc xóc của xe trên đường. Vậy là vẫn còn đây những gì trong kí ức tôi về cái làng quê của mình. Ngày xưa, trên những con đường thế này, tôi toàn đi bộ. Tôi vẫn nhớ như in, cỏ may găm đầy ống quần, thấm ướt nước vì sương mai.

 Lâu lắm rồi mới lại gặp cảnh cỏ may bám ống quần. Bỗng thổn thức bởi câu thơ của Phạm Công Trứ “Thế rồi đêm ấy bờ đê/có người ngồi gỡ lời thề cỏ may…” Xao lòng quá! Tôi cũng đang đứng trên đê. Con đê chắn mùa nước dâng của con sông Đáy. Nhưng tôi không gỡ lời thề. Tôi đang đứng giữa một làng quê thuần khiết và nhớ về làng của tôi, nhớ về ngày thơ của tôi. Tôi đang chắp nối hôm nay với ngày xưa.

Làng đang độ những ngày nông nhàn. Vắng hoe. Hàng ngày, chỉ quanh quẩn mấy ông bà già gặp nhau. Trai tráng và những người có sức lao động lên thành phố tìm việc hết. Lại như thấy cảnh cô đơn, lạnh lẽo làng quê những ngày chiến tranh. Ngâm ngẩm một nỗi buồn và một nỗi nhớ xa xăm…

Người đầu tiên tôi gặp là một đại tá, nguyên chuyên viên cục quân lực. Không thể ngờ là ông đã sáu chín tuổi, gần vào cái tuổi “cổ lai hi”. Nhờ cái dáng thanh, và những năm tôi luyện trong chiến trường, ông rất hoạt bát, nhanh nhẹn. Ông nói với tôi “Vậy mà tôi đang mang trong đầu hai viên bi đấy. Kỉ niệm chiến tranh trong tôi là thế. May là không để lại di chứng cho con cháu vì chất độc da cam như mấy anh bạn, nhưng mình khổ, trở trời là tôi lên cơn động kinh, chữa gần hai chục năm nay rồi, mỗi năm vài cơn. Nhưng vẫn còn may…!”. Ông lại cười và nhắc lại: “Vẫn may!”. Ôi người lính già. Tôi bất ngờ với câu nói của ông. Ngỡ ngàng nhìn ông như bắt gặp một điều rất lạ. Gần hai chục năm sống trong chiến trường, mang về quê hai viên bi trong đầu, phát bệnh cũng đã hai chục năm, nhưng khi nghĩ đến những đồng đội khác, ông vẫn cho mình là may. Cái đẹp của anh bộ đội cụ Hồ ngày xưa mới đơn giản làm sao!

Ông đại tá kéo tôi sang nhà ông em gần ngay đó. Ông thượng sĩ thời chiến tranh. Ông này số phận hẩm hiu hơn ông anh. Về nhà coi như với hai bàn tay trắng. Ngày đó, cái ngày sau hoà bình ấy, ta cho giải ngũ hàng loạt những người nông dân mặc áo lính. Cũng cậy cục ông anh làm ở cái cơ quan đầu não để tìm một chút quyền lợi đấy. Ông anh lại quá “nghiêm văn chỉnh”. “Khó lắm, không vận dụng chính sách nào với chú em được hết…”. Ông em đành về với mấy chục bạc trong tay, nhẹ tênh tếch. Hai anh em giận nhau mất một thời gian. Rồi nguôi ngoai… Vết thương nào rồi cũng lành… Tôi lại bất ngờ với cách xử sự của anh bộ đội cụ Hồ. Chuyện mới đấy mà đã tưởng là rất ngày xưa. Cứ như cổ tích!

Tôi nhìn ra phía ngoài. Cơ ngơi ông cựu thượng sĩ sau chiến tranh hơn ba chục năm cũng khá khang trang. Một mảnh đất lấn ra phía ao hợp tác đã hơn hai chục năm nay với đầy đủ giấy tờ vẫn chưa được xác nhận quyền sở hữu. Tôi không có ý định làm phóng sự điều tra nên không đi sâu vào chuyện giấy tờ đất đai vốn luôn vô cùng bí ẩn và chất chứa hàng đống những nhiêu khê đối với người dân, kể cả tôi. Tôi ra mé bờ ao, đàn vịt trắng phau đang nô đùa, rỉa lông rỉa cánh. Hình ảnh cái cầu ao làng ngàn xưa được thu nhỏ trong một gia đình. Dưới tán bóng cây si xanh mát rượi, một chiếc võng được mắc vào hai gốc cây, cong như một vành trăng. Thơ mộng và chứa chất kỉ niệm của người lính Trường Sơn năm xưa.

Chúng tôi lại đến ngồi dưới giàn mướp bên cầu ao. Chẳng nơi nào hơn quê được nữa. Hoa vàng, lá xanh, quả to quả nhỏ đang “lớn dần xuống phía dưới”*. Chưa tới chín giờ sáng. Vẫn là không khí trong lành của những con gió đồng thổi về. Mát rượi và thoải mái làm sao. Những bộn bề lo âu thường nhật không còn. Về với quê, chẳng việc gì phải nghĩ đến ghế nhỏ với ghế to nơi chính sự, chẳng cần nghĩ đến ô-tô với xe máy, chẳng cần chung cư và biệt thự làm gì. Cuộc đời đua chen, giả dối và mất nhân tính như không chen được vào đây. Lại nhận ra được một sự thuần khiết khác, trong trẻo và sạch sẽ khác của người quê, của làng quê. Ông thượng sĩ đưa cho chúng tôi hai cái cần câu. Cá của ao nhà, câu được con to ăn con to, con nhỏ ăn con nhỏ. Tôi thoáng nghĩ những hồ câu “cá cỡ bốn năm chục kí” ở ngoại vi thành phố, nơi khách chơi và các quan chức thường lui tới. Với khung cảnh này, cái hồ câu cá to đó ô nhiễm thật sự! Vậy mà trớ trêu, vẫn tồn tại và phát triển!

Tôi sang nhà ông bạn cũ. Cỗ bàn linh đình quá. Ông bạn cũ ngượng ngùng, xoa tay: “ Các bác đến chơi ăn bữa cơm quê…”. Người quê vẫn vậy, tình cảm thì chất phác mà lòng nhiệt tình với khách cứ đằm đằm lồ lộ. Tôi ái ngại cho sự vất vả của các bà vợ miền đất “quanh năm buôn bán ở mom sông/nuôi đủ năm con với một chồng”**…, cho sự tằn tiện hàng ngày mà tôi thường thấy. Để rồi mỗi lần khách đến chơi nhà, lại mang tất cả ra đãi đằng.

Chúng tôi ngồi vào mâm bày trên sân nhà. Loáng thoáng nắng. Vẫn như còn sớm. Hôm nay ông trời chiều chủ nhà cho một ngày mát mẻ để người quê tiếp khách đường xa. Hơn một chục người. Toàn những người gặp nhau là goị nhau bằng đồng đội ngay được. Bấy giờ mới khoảng mười giờ. Ăn cỗ với người quê vẫn vậy. Tôi thì vẫn nghĩ đây là buổi sáng. Một buổi sáng tốt đẹp. Người thành phố vẫn chúc nhau như thế!

Còn ở đây, ông bạn tôi xoa tay: “Mời các bác ăn với nhà em bữa cơm rau…”. Vâng, cơm rau. Tất cả các loại rau ở đây đều sạch!

 

                                                                                                Vinh Anh

                                                                                                  3/09/09

·         Thơ Nguyễn Khoa Điềm

·         Thơ Nguyễn Khuyến

  

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét