Tháng ba và lòng biết ơn
Thực
ra, không chỉ là tháng ba. Nhưng những ngày tháng ba năm nay bỗng lại nghĩ nhiều
về nó. Nguyên do là tháng ba năm nay, người ta nói nhiều đến sự hi sinh của những
người chiến sĩ nơi biên giới, hải đảo và đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa
hơn những năm vừa qua.
Chẳng
hiểu sao, mình nghĩ, lòng biết ơn với những người đã ngã xuống vì đất nước nó
cũng trừu tượng nhưng cũng dễ hiểu như lòng yêu nước, nó là đại lượng không đo
đếm được và nó cũng không thể hiện được cụ thể như lòng biết ơn của con cháu với
cha mẹ, ông bà. Nhưng lòng biết ơn này lại thiêng liêng. Sự thiêng liêng này
cũng mơ hồ, xa xôi và trừu tượng. Nó có sẵn trong máu mỗi người và nằm đâu đó
trong trái tim, khi được nhắc đến, nó sẽ chảy, sẽ đập, còn nếu không, nó nằm
im.
Vậy
thì lòng biết ơn cũng như lòng yêu nước phải được nuôi dưỡng. Những khái niệm
này mang tính thiêng liêng cho mỗi con người nên nó có ý nghĩa ở tầm quốc gia,
nghĩa là quốc gia phải có trách nhiệm. Trách nhiệm ở đây chính là nuối dưỡng
cái tinh thần, cái sự thiêng liêng ấy. Nuôi dưỡng tinh thần cũng là nuôi dưỡng
cái tính chất có tính trừu tượng. Nó là tính đạo đức không thể thiếu của mỗi
con người mà đạo đức lại mang tính dân tộc. Đạo đức có hồn dân tộc trong đó.
Mấy
năm trước, đi cùng hai người bạn lên biên giới cũng vào tháng ba. Dọc đường lên
miền Tây, có rất nhiều đoạn gặp những bông hoa gạo chói đỏ như những cục lửa
treo trên bàu trời. Đẹp lắm! Mà dáng cây hoa gạo mới thật đẹp và hiên ngang làm
sao. Cây nào đứng lẻ bên đường cũng sừng sững cao, ngạo nghễ như những lực sĩ bất
chấp gió táp, phong ba, hứng mặt cho gió Bắc quật vào như để gánh vác hết, chịu
nhận hết những đớn đau thay đồng loại.
Màu đỏ đó làm cho dòng máu nóng trong người chảy rần rật, lan tỏa mạnh mẽ hơn.
Một
liên tưởng trẻ con, những cây gạo kia có phải là những người chiến sĩ ngày xưa,
những người trấn ải nơi biên cương, giữ gìn bờ cõi. Và sau này, lớp lớp những
người lính nối tiếp nhau, thật sự họ đã hóa thân vào đó, mãi mãi đứng nơi đầu
sóng ngọn gió, vẫn tiếp tục trông chừng kẻ thù nơi phương Bắc.
Những
năm của thập kỉ 70-80 đó khó khăn lắm. Ngày đó vừa mới thoát ra khỏi cuộc chiến
tranh với Mỹ lại luôn bị “ông em” láng giềng phía Nam gây rối. Mình tuy là người
trong cuộc cũng không mường tượng hết cái khó của cuộc chiến tranh, nhưng biết
chắc người lính thiếu thốn đủ điều, cả vật chất cho cuộc sống và vũ khí để đánh
giặc. Đến cái viên đạn cối 60 li cũng mãi sau này mới làm được vì trước đó,
ngành cơ khí của ta đã chế tạo được gang cầu đâu, súng ống, đạn dược toàn của đi
xin cả đấy chứ. Nghe nói trên các cao điểm, mình rót sang nó một quả cối, bọn
Tàu câu sang cả chục quả, cả trăm quả. Các loại tiêu pha cho chiến tranh chống
Tàu không bằng thời chống Mỹ. Nhưng được cái là dân cả nước đều căm ghét và ủng
hộ chính quyền chống giặc Tàu. (Chỉ trừ mỗi
ông Hoàng Văn Hoan bị kết ngay cái án tử hình vắng mặt và đặt cho cái tên Trần
Ích Tắc mới) Chẳng vậy mà Quốc hội lại ghi được cái câu “kẻ thù truyền kiếp”
của dân tộc vào trong Hiến pháp. Cũng với lại phải nói lại, thời đó, uy tín của
Đảng trong dân còn lớn, hoặc là dân còn sợ (có thể còn dại khờ nữa). Đa phần dân còn tin tưởng (có thể là mù
quáng). Thêm một điều nữa, cán bộ và nhân dân nói chung cũng còn ngờ nghệch,
“đồng phục” lắm. “Đồng phục” về tất mọi phương diện, như một nhà thơ người miền
Nam đã nói.
Đã
nhiều lần tự hỏi, bọn Tàu với ta đánh nhau chí chết, chúng giết dân mình dã man
có khác gì lính Pol-pôt đâu, mà sao vẫn có người chấp nhận “láng giềng tốt, đồng
chí tốt” được nhanh như vậy, băn khoăn lắm. Nỗi băn khoăn đó chẳng biết thổ lộ
cùng ai bởi chúng ta đến tận ngày nay, rất nhiều người vì sự thiếu hiểu biết,
vì bị bưng bít, vì một chút lợi ích nhỏ nhoi vẫn sống giả dối lắm, lúc nào cũng
cương lên với những quyết tâm và tin tưởng cộng thêm lòng trung thành tuyệt đối,
thế là thành người cách mạng triệt để. Nếu ai đó có ý nghĩ hoặc một câu nói nào
không đúng chủ trương, đường lối chỉ đạo là sẽ nằm trong tầm ngắm của những cuộc
học tập, giáo dục ngay. Cảm thấy như, muốn thay đổi được những suy nghĩ thủ cựu
lạc hậu của họ, cần phải cho họ thấy, máu của nhân dân đã đổ vì bọn Tàu như thế
nào. Vâng, chỉ khi máu đổ, họ mới mở được mắt nhìn nhận kẻ thù.
Như
đã nói, ngày đó (1979) coi như cũng vừa mới chui ra từ bom đạn ra, vừa mới được
hưởng một chút không khí hòa bình, nhưng với rất nhiều người, trong đó có mình,
đã ngại bom đạn rồi. Vậy mà lại đánh nhau tiếp, ngại lắm. Ai huênh hoang vì đã
thắng hai đế quốc to thì cứ huênh hoang, còn mình thì chán. Lại chiến tranh ư, lại
chui hầm chui hố, lại máu me, chết chóc ư, chán lắm!
Nhưng
đúng là chiến tranh, đúng là máu me lại chảy và người lại chết. Chết rất nhiều
và thiệt hại rất lớn. Chỉ biết rằng, dù thời gian đã qua những gần bốn chục
năm, đa phần người dân ta không biết đến cuộc chiến tranh đó, đến hơn sáu vạn
người đã chết trong cuộc chiến tranh đó, đến sáu tỉnh biên giới bị tan hoang
hoàn toàn bởi chính giặc Tàu.
Cuộc
chiến tranh một tháng tại các tỉnh biên giới phía Bắc do quân Tàu phát động
càng ngày càng phai mờ trong kí ức dân tộc. Thật sự đó là sự đau khổ, nhục nhã
và vô ơn với những người đã khuất, với truyền thống lịch sử và với tổ tiên đã
biết bao lần bị bọn giặc Phương Bắc xâm lăng, nhưng lần nào tổ tiên ta cũng đứng
dậy và lần nào cũng chiến thắng. Lịch sử còn ghi rành rành như thế trong sách
giáo khoa cho học sinh.
Vậy
mà cuộc chiến tranh năm 1979 vẫn chưa có tên gọi chính thức trong lịch sử giữ
nước của dân tộc Việt Nam. Lớp trẻ sinh sau 1979 hầu như không biết, chỉ láng
máng hiểu. Xót xa hơn, hơn sáu vạn con người ngã xuống đó hơn ba chục năm qua,
không được người đời sau nhớ đến và chính thức, công khai thắp trên bia mộ họ một
nén nhang. Đấy có phải là có tội với những người đã hi sinh? Đấy có phải là sự
vô ơn, đấy có phải là nỗi nhục? Lẽ nào đấy lại là truyền thống “ ăn quả nhớ kẻ
trồng cây, uống nước nhớ nguồn”, đạo lý từ ngàn xưa của dân tộc Việt Nam?
Ngày
nay, trên phương tiện truyền thông đại chúng, người ta oang oang nói về văn hóa
Việt. Vậy nhưng ra đường thấy đánh nhau, trộm cắp, người già bảo con cháu “đừng
dây vào”. Trong trường học, thày giáo là tấm gương cho học sinh, chuyên dạy điều
hay lẽ phải cho lớp đàn em, vậy mà thày đánh trò, đánh dã man cả trẻ nhỏ còn bi
bô đến chết, nên mới có chuyện trò dám vùng lên đánh lại thầy. Cơ quan công
lý duy trì pháp luật không hiếm kẻ vào
đó khỏe mạnh, khi ra là xác chết. Công đường tuyên những bản án oan chết người
hoặc đày ải con người. Giới sĩ phu thì âm thầm lặng lẽ, cuộn sâu trong kén, chỉ
biết vinh thân phì gia, nhắm mắt trước nỗi đau thiên hạ. Những chuyện như vậy
cũng nhan nhản hàng ngày trên thông tin đại chúng. Vậy thì, chuyện thắp một nén
nhang tưởng nhớ, tỏ lòng biết ơn tiền nhân-những người lính và đồng bào của
mình ngã xuống nơi biên cương vì giữ gìn và bảo vệ từng tấc đất giang sơn của
ông cha, có lẽ cũng là hàng xa xỉ. Với người dân còn nghèo khổ, hàng xa xỉ chẳng
mấy ai biết, chẳng ai dám dùng. Đó có phải là chúng ta đang tạo ra một thứ văn
hóa vô ơn, bạc nghĩa?
Cũng
nhục nhã và vô liêm sỉ không kém là những ông bà ở cái tuổi phải biết phân biệt
phải trái, biết rõ đạo lý sống trên đời để còn dạy dỗ con cháu nên người, lại
ôm nhau nhảy trước mặt cụ Lý Thái Tổ, hòng phá buổi tưởng niệm của một số rất
ít người dân, biết nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, mang hương hoa đến thắp
cho những người đã hi sinh trong chiến tranh. Chẳng lẽ, các ông bà đó lại không
hề hay biết hành động của mình là đang phỉ nhổ, bôi gio trát trấu vào sự hi
sinh của đồng bào mình. Tôi mong họ là những người bị bùa mê chứ không phải là
những người vô ơn.
Tháng
ba năm nay sắp qua, hoa gạo trên biên giới sắp rụng hết để những mầm chồi sẽ bật
dậy và vươn lên mạnh mẽ. Hôm nay, thấy mặt trời đã hé, con lại xin thắp một nén
nhang mong vong linh tổ tiên về phù hộ để dân giàu nước mạnh, có sức giữ yên bờ
cõi, mở mắt cho bọn u mê.
Vinh Anh-25/3/14 lâu lắm rồi lại thấy mặt trời.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét