VINH ANH
NẺO ĐỜI
Tiểu thuyết
NẺO ĐỜI
Tiểu thuyết
29. Trong khi đó Ngân thanh thản. Không phải con người Ngân không có những đòi hỏi hay
mong ước. Có. Chắc chắn có. Ai mà không có? Nhưng môi trường sống của Ngân
không được tiếp xúc với những sản phẩm có thể làm cám dỗ con người, tha hóa
lòng người nên ít có điều kiện để nghĩ về vật chất hay danh vọng, cũng như cố
tìm mọi cách để giữ được những quyền lợi đó. Điều này chắc hẳn cũng do số trời
quyết định. Cả Ngọc và Ngân đều không thể chủ động biết được con đường mà mình
sẽ phải theo đuổi.
Quyển sổ của cô bé có bài thơ viết dở được ghi thêm
những dòng tâm sự sau: “ Gặp bạn gái của
Ngọc giữa vùng bom đạn, thật ấn tượng. Không ngờ một cô gái Hà Nội lại dám xông
vào nơi khói lửa nguy hiểm này. Vẫn biết là con cháu Bà Trưng, Bà Triệu thì chí
khí anh hùng “dễ mấy ai” sánh được. Nhưng đó là với ai cơ, đằng này nó lại Hà,
người mà chắc sẽ thành bạn thân thiết của ba chàng ngự lâm, như bé Sen ấy. Vậy
là mỹ nhân thành anh hùng ngay trước mắt mình đây.
Buổi chuyện
trò ngắn quá, sự cảm phục của mình chỉ đến sau khi đã chia tay các bạn thanh
niên xung phong. Mình còn cảm phục hơn nữa khi thấy sự xông pha của Hà chứa
đựng rất nhiều nỗi niềm, nhưng một nỗi niềm mà mình cảm phục đó là dám đứng xa
ra khỏi vùng ảnh hưởng để nhìn nhận đánh giá tình cảm của mình. Vậy là đẹp quá
đi chứ. Thử hỏi trên đời mấy ai dám dùng lửa đạn gay go để thử thách tình yêu
cơ chứ. Con người hiếm đấy. Thằng bạn mình cũng sẽ lúng túng với cô bạn này
đây.
Hà khoe rất
tự nhiên: “Em đã viết được ba bài báo”. Mình phục. Chuyện viết lách mình ngại
lắm. Cứ a lô, nói mồm như thuyết minh phim “ống nhòm” ngày xưa thì
được, viết ra câu ra chữ để người khác đọc thì xin chịu. Chỉ dám tự tâm sự bằng
mấy câu thơ thôi. Vậy mà Hà đọc, khen hay. Thế ra tớ cũng tài năng phết nhẩy.
Chẳng nhẽ cái gì cũng hai thằng kia giỏi cả.
Nhưng mình
nói rất thật với Hà: “Anh không thích những bài ca ngợi lên gân lên cốt đâu. Em
đừng viết kiểu đó nhé. Giả dối lắm. Hãy chân thật, không khiên cưỡng. Mọi người
ở đây làm việc thứ nhất là vì nhiệm vụ được giao. Được giao thì phải làm. Lính
là thế mà em. Nhưng nếu nói quá lên vì quyết tâm, vì căm thù, vì tương lai tốt
đẹp, vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước… Vì nọ, vì kia nữa
thì khó nghe lắm. Cái đó để cho mấy ông “tuyên giáo”, để cho cả thằng bạn
“chính trị viên” của anh nữa. Đành rằng những con người ở đây đều có đầy đủ
những “điều vì”ấy nhưng nếu tô vẽ nhiều quá thì nó dở, nó không thật. Bọn anh ở đây vì nhau là chính. Em sẽ hiểu,
tình đồng đội là thiêng liêng nhất ở đây. Trong khó khăn, không có đồng đội,
chết luôn đấy.
Cô ấy nghe và
cười. Mình chắc mỏm nói đúng tim đen cô bạn.
- Vậy là anh
chưa hiểu em rồi. Em sẽ viết như anh nói. Không tô màu, đánh phấn cũng không
tuyên giáo kiểu “chính trị viên Ngọc”. Sẽ tôn trọng sự thật. Anh đồng ý chưa?
- Thật không?
Ngoắc tay nhé…
- Ngoắc thì
ngoắc, sợ gì…
- Anh sợ thế
này này. Ông chủ báo thấy không đúng đường lối chỉ đạo, không cho bài em lên.
Em nghe đây, chính anh bị như vậy đấy… Chuyện là thế này… Mình kể chuyện mình
được đề nghị tặng thưởng huân chương và được báo cáo ở đại hội liên hoan mừng
công. Bản báo cáo của mình phải thông qua ban thi đua trung đoàn. Chán, khoe
thành tích làm quái gì cơ chứ, ai thiết. Nhưng mà không thể không làm, bị ép!
Thì viết. Không đúng ý chỉ đạo. Phải sửa. Sửa gì? Phải viết thế này “trong khi
làm nhiệm vụ, luôn được chi bộ Đảng theo dõi giúp đỡ, cho ý kiến chỉ đạo”. Cả
chiến dịch đó, có gặp ông chi bộ nào đâu mà theo dõi, giúp đỡ với chỉ đạo. Chỉ
có anh và tốp thợ ba người. Nhưng mà phải viết vậy để vai trò của Đảng hiện
diện ở khắp nơi. Phải viết lại. Đấy,
chuyện của anh đấy… Em xem…
Hà cười ngất.
“Đúng là phong sương, hiệp sĩ… và cả lãng tử nữa. Anh rất dân dã, đời thường”.
Mình rất khoái câu nói đó của Hà. “Em sẽ viết về anh... Đương nhiên không thật
là anh, hình bóng anh trong đó. Đẹp trong suy nghĩ, mạnh mẽ trong hành động và
chân thật và cháy bỏng trong tình yêu” “Ối, em ca ngợi anh như vậy lại không
thật rồi. Không được! Mà anh ghét thói tâng bốc nhau lên lắm…” “Không sao, em
nhớ lời anh rồi mà… Thảo nào mà khối cô gái chết…”
Nói chuyện
với Hà xong mình lên đường, cô gái ở lại nơi bom đạn. Mình áy náy quá. Ước gì
có thể chìa vai gánh vác được những công việc rất đàn ông này cho phụ nữ nhỉ…
Ồ, con gái
hay nhỉ. Mới chỉ một buổi chiều, mà sao thành thân thiết nhanh thế. Cái này
phải nhờ ông bạn đã nói tốt về mình. Hẳn rồi! Cái thằng đến may. Nó tốt số. Đôi
lúc mình cũng ghen với nó và thằng Nhân. Nhưng nghĩ kỹ, chẳng sao cả và nếu
mình như thế, sẽ trở nên ngớ ngẩn trước những người như Hà ấy chứ. Ừ mà mình
phục Hà ghê. Con gái mà trận mạc gớm…
Cuộc chiến
cho mình cuộc đời phong phú hơn chúng nó. Mình cũng không tự hào về cái sự
chinh chiến này đâu. Nhưng đa dạng sống vẫn có cái hay. Hồi nhỏ mình cũng là
dân chơi, đâu có được học hành, thích cái gì là bắt chước làm theo ngay, cái
rạp chiếu phim ống nhòm lưu động là điển hình. Chỉ thiếu nước chưa lên rừng ở
với bố. Bây giờ thì rừng với biển đều biết. Đời trai phải như vậy mới thỏa chí.
Có lẽ “lãng tử” là ở chỗ này đây, phải không cô bạn?
Cũng nhờ có
chiến tranh mà mình được đi đây đi đó. Từ những bản làng heo hút ở miền núi
phía Tây Quảng Bình, mình được biết về đời sống của đồng bào thiểu số rõ nét
hơn, cụ thể hơn. Bài học địa lý cấp hai hồi nào chỉ đơn giản nói ở nước ta có
hơn năm chục dân tộc sống chung với nhau trong một mái nhà. Đâu phải, khác nhau
xa lắm. Khổ , nghèo, đói và mù chữ. Đâu có được như dân tộc bé Sen. Vậy là
“chung một mái nhà” chỉ để biểu thị tình đoàn kết. Càng vào vùng xa xôi, càng
khó khăn, càng nghèo đói. Tất cả quần áo, chăn màn cho đến gạo thịt của bộ đội
đều là những thứ quý giá với đồng bào. Vậy còn nói gì đến y tế với học hành. Cứ
bom đạn thế này, đời sống đồng bào bao giờ khá lên được. Hà cũng kể chuyện đổi
cái chăn chiên lấy con gà về nấu cháo cho bạn bị sốt rét mà thương. Muốn cho
luôn đồng bào nhưng lại nghĩ bạn cần tẩm bổ sau trận sốt rét. Đời con gái mà
vài ba trận sốt rét thì tơi tả tong teo hết. Phải đổi thôi. Vừa cầm con gà vừa
chạy nhanh, không dám quay lại nhìn.
Ở cùng lính
mới thấy nghĩa tình đồng đội thiêng liêng vô vàn. Còn ai chăm sóc nữa lúc đau
ốm. Bạn bè bây giờ là mẹ, là chị. Lúc
chết, chỉ có bạn bè bên cạnh. Nhiều thằng chết thương lắm, hầu như đều trai tơ,
chưa một lần hôn người con gái. Giữa rừng sâu heo hút, gói chúng mày trong tấm
tăng, hệt “Viếng bạn” của Hoàng Lộc thời chống Pháp: “Hôm qua còn theo anh/ đi
qua đường quốc lộ/ hôm nay đã chặt cành/ đắp cho người dưới mộ…Ở đây không gỗ
ván/ vùi anh trong tấm chăn…” Bởi có những cảnh chia ly đau lòng buốt ruột thế
nên tình bạn, tình đồng đội thành thiêng liêng, không sao quên được.”
Sự hòa đồng đến vô tư của Ngân khác hẳn những gì mà
cuộc sống cơ quan Ngọc. Một điều mà ở cơ quan Ngọc không bao giờ có: tiêu chuẩn
đường sữa của sĩ quan của Ngân, Ngân đều tự góp chung với lính tráng cho một
vài bữa liên hoan cháo chè, thì nơi Ngọc, mọi người phân chia cho từng cá nhân.
Tất tần tật mọi thứ được cấp. Không thể chê trách được vì mọi người đều phải lo
cho gia đình bé mọn của mình. Nếu không đủ cho tất cả thì bốc thăm, may mắn vào
ai người đó hưởng. Cũng đôi người tự nguyện loại mình ra ngoài danh sách đó,
nhưng ít ỏi lắm. Tiêu chuẩn rõ ràng ông úy, ông tá, ông tướng. Chẳng ai lẹm vào
ai. Bởi vậy cái thân thiết, cái chia ngọt sẻ bùi, cái đồng cam cộng khổ cũng
chỉ bay về từng mái ấm nhỏ bé. Không thể phê phán cuộc sống chỗ Ngọc, bởi có
câu “sống mỗi người mỗi nhà…” cơ mà. Nhưng, cứ nghĩ kỹ mà xem, chúng ta vẫn có
thể sống tốt hơn. Nếu để cái chất đời nó buộc chặt, nó thấm lấy con người, ta
sẽ sống vị kỷ. Nếu để cái chất đời nó gợi thương gợi nhớ, làm đẹp tâm hồn con
người, ta sẽ sống vị tha.
Bom đạn nơi khói lửa đó không phân biệt được tuổi tác
hay cấp bậc, nên giá mạng sống con người nơi đó cũng gần na ná như nhau. Chính
vì na ná như nhau nên nó gắn kết chặt chẽ được số phận mọi người. Con người nơi
đây như có một mẫu số chung. Thế giới bình đẳng nhất được thể hiện tại nơi ác
liệt, nơi tính mạng con người có giá như nhau. Sinh mệnh ai cũng quý cả. Nhiều
lúc Ngân nghĩ, không phải thế. Chi li thì không phải, nhưng đại thể người ta
vẫn chấp nhận, những người thường xuyên kề cận cái chết đều chấp nhận.
Tính khoáng đạt đến với con người trong những tình
huống ta thấy mạng sống là quý nhất, chẳng gì có thể sánh được. Nơi bom đạn
đây, vật chất và mọi của nả trên đời đều không thể so với sự sống. Bởi vậy, đồ
vật có giá trị chỉ là kỷ niệm ở đáy ba lô. Khi vật chất không còn giá trị thì
giá sinh mệnh lại nổi lên. Bởi nó là thứ đáng giá, nên mọi thứ khác chỉ là đồ
tầm thường, mọi thứ đều có thể mang ra dùng chung và ta bỗng thành con người
khoáng đạt.
Nói đến sự khoáng đạt thì cũng cần nói đến lòng tham
và thói ích kỷ. Những tính cách đối lập luôn xuất hiện cạnh nhau. Ở nơi mà sự
sống và cái chết cách nhau gang tấc, lòng tham thể hiện ở sự tham sống. Ở nơi
không cận kề cái chết, lòng tham thể hiện nhiều mặt và phức tạp hơn. Chính ở
nơi cận kề cái chết, cái chết có thể “bất đắc kỳ tử” đó, nó hạn chế đi rất
nhiều sự tham lam mà vốn dĩ cuộc sống tạo nên cho con người. Mà lòng tham đi
liền với danh vọng và quyền lực.
Hỏi rằng Ngân có tham vọng về danh vọng và quyền lực
hay không? Có, có chứ, nhưng chỉ có điều ham muốn đó nó nhỏ nhoi lắm, bé bỏng
lắm, không là gì so với mong ước được sống, được tồn tại sau chiến tranh. Chính
cái nhỏ mọn, bé bỏng về ham muốn kia làm cho cuộc sống và tính cách của Ngân
khoáng đạt. Ở chỗ Ngân người ta chỉ nói về cái chết và sự sống. Xe đạp phân
phối, nhà ở phân phối là cái điều quá xa xỉ với những người lính nơi đây, là
những bổng lộc mà những người như Ngân không bao giờ nghĩ đến. Khác hẳn nơi
Ngọc, luôn va chạm với nó hàng ngày. Mỗi một ngôi sao được gắn thêm lên ve áo
là kèm theo những bổng lộc và danh vọng mà chẳng hiểu vì sao, người đời rất
ngưỡng mộ. Phải chăng, cái địa vị, cái ghế ngồi, cái danh vẫn luôn là động lực,
thôi thúc mỗi con người.
Bố Ngân là một ví dụ điển hình vì sự chậm thăng tiến.
Ông gắn bó suốt cuộc đời binh nghiệp trên miền núi cao phía Bắc, quanh năm tứ
thời làm bạn với mây và gió, với những con người có cuộc sống rất lạc hậu và
khó khăn. Mọi vật dụng của người lính biên cương với đồng bào đều là những vật
lạ, những của quý, của hiếm thậm chí đồng bào nơi đây chưa hề nghe hay nhìn
thấy bao giờ, cái ra-đi-ô, chiếc cần ăng ten hay đôi khi, năm có năm không, có
những buổi chiếu phim của đội điện ảnh cơ động binh chủng, là những ví dụ.
Vì sống trong môi trường như vậy, nên những đòi hỏi về
cuộc sống cá nhân của ông cũng rất đơn giản. Là một đồn trưởng, ông cũng chẳng
khác gì những người lính dưới quyền, vẫn gia tài là một chiếc ba lô và một
chiếc giường cá nhân. Có phải vậy mà lối sống đơn giản đậm đặc chất lính đã
truyền sang cậu con trai đang sống ở cánh rừng biên giới phía Nam .
Bố Ngân đã có những lần công tác ở cao nguyên đá Hà
Giang. Ông đã chứng kiến những cây ngô vươn lên từ những khe đá và đã tự hỏi
mình với một lòng cảm phục, phải chăng nơi đây, người dân đã tạo câu chuyện
thần kỳ là “đá đẻ ra ngô hay là ngô mọc lên từ đá” Kỳ tích về cuộc đấu tranh
với sự khắc nghiệt của thiên nhiên khiến con người tồn tại được ở chốn trần
gian.
Có phải vậy mà những người lính như ông không giữ
riêng cho mình chút riêng tư. Một sự chắt bóp ki cóp, để dành riêng cho mình là
một nỗi nhục, nỗi xấu hổ của con người trước đồng loại. Tâm hồn ông đã giàn
trải với núi rừng là thế, một tâm hồn phóng khoáng cũng chứa đầy ưu tư của con
người.
Từ một góc rừng phía Nam, một chiều đông, Ngân đã nghĩ
về bố mình với tình cảm của người đồng đội, người con và cậu đã nức nở bởi thấu
hiểu tình cảm thiêng liêng của bố với huyền bí rừng già và cũng hiểu nguyên do
mấy chục năm xa nhà của bố.
“Ngắm những
cánh rừng bạt ngàn mỏi cánh chim bay trong chiều đông, thấy cũng buồn buồn. Chim bay về nơi đâu đó
xa xăm. Nơi xa xăm mà ta muốn gửi về những thương và nhớ là cánh rừng mà ở đó,
người cha sinh ra ta vẫn ngày đêm lặn lội. Vậy là gần một đời cha đã vì nước vì
non. Con nói về bố như vậy có quá không nhỉ? Chắc không. Ba năm ở rừng, con
cũng hiểu thế nào là xa nhà, nỗi nhớ, nỗi cô đơn và cả sự hy sinh nữa. Con không
cứng rắn được như bố. Nhiều lần con tự hỏi và so sánh mình với các bạn của con,
thằng Nhân và thằng Ngọc, chúng nó như
có một cuộc sống có vẻ thuận lợi hơn con. Có điều kiện học hành, có tình yêu,
có con đường đi lên rõ ràng… đại loại là có tương lai. Con nói vậy nhưng con
không ghen với chúng nó đâu, tuy vậy cũng đôi lúc trạnh lòng bố ạ, tui tủi một
chút. Bố cũng đừng vì con như vậy mà suy nghĩ nhiều. Có ai hy sinh bằng bố. Bố
không nói, nhưng con biết điều đó. Đó chính lại là niềm tự hào của con. Con vẫn
nhớ câu chuyện “đá đẻ ra ngô” của bố ở cái cao nguyên tuyệt vời toàn đá và đá
đó. Phải có một tình yêu tha thiết và phải gắn bó máu thịt lắm, bố mới có những
nhận xét đầy chất “lãng mạn lính tráng” như vậy, bố nhỉ…
Con bỗng nhận
ra một điều, bố con mình giống nhau quá. Giống từ cách sống, suy nghĩ, và cả về
cái sự nghiệp mà bố con mình không cố ý chọn, nhưng cuộc đời lại cứ trao cho. Trong các điểm đó,
bố có biết con thích nhất điều gì không? Chắc bố đã biết. Con thích nhất là sự
giống nhau về “cách sống”. Con cảm thấy bố con mình giống nhau bởi sự chan hòa
với xung quanh, một cuộc sống ít lo cho mình cho nên nó thoải mái, phóng
khoáng. Chính bởi biết mình chỉ là một sự “nhỏ nhoi”, nên bố con mình không coi
cái “chốn đông người đua chen” là quan trọng.
Có lẽ con nói
với bố là thừa, nhưng đây chính là những điều mà con tự răn mình thì đúng hơn.
Ở đời, cần nhất là sự đồng cảm, sự sẻ chia và tình thương. Những ngày ở với bạn
bè nơi đây, (con được tiếp xúc với đủ các loại từ bốn phương trời bố ạ) và con
thấy cuộc đời lại cho mình một đặc ân. Ở vùng chân mây của bố, bố thường nghe
lời của những người dân “nói lời cây mọc thẳng”, đúng không bố? Cái đó có phải
nghĩa nó là sự trong sáng, thẳng ruột ngựa, không ngoắt ngoéo, cái chất thật
thà như đếm của người dân tộc. Chỗ con cũng vậy, có phần đa dạng hơn, đó là
những người quen ăn sóng nói gió của dân biển, từ nhỏ đã đắm mình với biển cả
bao la và ồn áo sóng dữ; đó là những
người của vùng “gió Lào, cát trắng” với mỗi lời nói như ném ra một vốc
cát vào mặt người đối diện, như tỏa ra một luồng hơi nóng nhiệt tình, khí thế;
cả với những bạn vùng công giáo toàn tòng nữa bố ạ, lời nói của họ cứ văng vẳng
một lời thỉnh cầu, nhẹ nhàng, lắng sâu như tiếng vọng ngân nga của chuông nhà
thờ buổi chiều ấy… Con cảm được cái vô cùng vô tận của cuộc sống phức tạp mỗi
vùng miền, nhưng trong họ, con người lúc nào cũng chất chứa yêu thương. Con
thấy tình yêu quê hương đất nước của họ sâu đậm lắm, dạt dào lắm mà con, con
chưa có, con thua kém họ rất nhiều…
Con nghĩ như
vậy và tất cả những suy nghĩ về cái sự “thiệt thòi” của mình bỗng tan biến, tan
biến thật bố ạ. Con lại muốn gặp một ai đó chuyện trò, muốn hiểu thêm cái thổ
ngữ nơi họ sống. Riêng cái chuyện thổ ngữ cũng đủ kể một đêm không hết chuyện
cười. Nó rất “chi là dân gian”. Con ước, con sẽ thu thập được tất cả các chuyện
cười của người lính. Ôi, thực sự những chuyện cười ra nước mắt vui đó, kết gắn
chúng con rất nhiều với nhau. “Cái đại đoàn kết dân tộc” chỉ trong cuộc sống “đời
trai núi rừng” này mới thấy hiện rõ.
Bởi vậy, bố
biết không, con không mấy khi nghĩ về cái quyền lợi mà mình được hưởng đâu. Chỗ
con ở, cái danh, cái quyền không hấp dẫn bằng cái tình. Đổi cả một đống danh
vọng ở Hà Nội không có được một cái tình chỗ chúng con đâu. Nghe có vẻ hơi ngoa
nhưng sự thực nó là thế. Bố nghĩ mà xem, mỗi lần lên đường đi công tác, chúng
con lo cho nhau nhất là mong chúng mày trở về bình yên. Vâng bình yên là sinh
mạng mà sinh mạng là quý nhất.”





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét