Chuyện cũ về mùa đông
chuyện cũ về mùa đông Tặng thằng em
Vừa trải qua cái buốt giá xứ người. Buốt giá đấy và cũng ấm lòng đấy. Chẳng biết có ai hiểu cho không? Chắc là không. Chẳng ai hơi đâu nghĩ tới những điều vụn vặt của người khác khi trong cuộc đời đầy tai ương này, đã quá thừa những lo toan. Trên xứ thiên đường của ta cũng như những địa ngục trần gian các nơi khác, con người đều như vậy cả thôi. Chẳng muốn nói nhiều về đất nước của mình nữa và cũng cảm thấy chẳng có gì là lạ. Yêu nước ư? Hy sinh vì Tổ quốc ư? Lại như thấy đâu đó một giọng cười hay một vẻ mặt mai mỉa. Thế nào là yêu nước. Trong hoàn cảnh hiện nay, thấy quá khó trả lời. Yêu nước có thể thành phản động và bị tống vào tù như bỡn. Ai không tin điều đó, tôi quả quyết người đó ít thông tin về cuộc sống ngày hôm nay trên đất nước ta. Ngày xưa, cái ngày mình còn trẻ đôi mươi ấy, sợ mùa đông xứ mình lắm. Lạ! Cái rét căm căm làm co quắp thân hình lại, khiến mình rất sợ nước, có những đợt cả tháng trời không tắm, chỉ thay mỗi cái áo lót trong cùng, sát người. (Ngày ấy, mùa đông, mình thường mặc 6-7 chiếc áo, cái nào cũng tàu tàu, bờn bợt, lớp này nối lớp kia. Những may-ô, sơ mi, đông xuân, trấn thủ, len, sợi, và phủ ngoài luôn là chiếc áo đại cán nhà binh. Khi ngủ chỉ cởi bỏ ba lớp áo ngoài, còn lại vẫn vậy lên giường. Những chiếc áo thuộc lớp giữa cảm thấy luôn sạch sẽ, cả mùa đông chẳng cần phải thay). Những năm sau này, vào độ “nhi bất hoặc”, không sợ nữa. Hoá ra, nghiệm ra điều này, cái đói khiến người ta rét thêm. Cái đói làm mình sợ rét, cứ luôn cố thu nhỏ khối hình lại mỗi khi phải ra ngoài đường. Chuyện, quanh năm cơm rau muống, cá khô lấy đâu ra nhiệt năng, cho nên mặc bao nhiêu áo cũng không chống trả nổi những ngọn gió sắc nhọn như những lưỡi dao cứ nhè chỗ không được che phủ bởi lớp vỏ bọc, chém và thọc vào da thịt. Thôi chẳng nói chuyện ngày xưa nữa, cái ngày xưa đó, ở nước mình, ai chẳng vậy.
Nhưng mà đây là chuyện mùa đông, chuyện mùa đông của mình nó lại cứ dính đến ngày xưa. Dẫu không muốn nhắc về cái thời khốn khó làm gì, nhắc về nó lại thấy rùng mình hãi hãi, hãi mà rồi vẫn thổn thức nhớ thương..
Mùa đông đó, mình và thằng em-thằng lính công vụ cho ban chỉ huy đoàn. Thằng lính có cái khí khái của thằng lính, mình thích và cũng tiếc. Nó không muốn làm công vụ. Vậy là cho nó về coi kho. Cái kho của đơn vị mình toàn xe xích kéo pháo ốm yếu, bệnh tật, qùe quặt. Thằng em là thợ xe xích, về ở chung với thằng lái xe xích. Quá đẹp. Hai ông tướng làm chủ một vùng rừng cao su, nơi tụ hội hơn ba chục cái xe xích, hậu cứ của lữ đoàn mình mấy năm trước.
Dạo đấy, có đận phải sang Lào kéo về những khẩu pháo bị đổ. Gọi thằng em về đi cùng. Rồi có việc gì đó, mấy anh em phải nằm ở chân cầu Bản Đông, một địa danh nổi tiếng thời chiến tranh, đón đại quân. Vượt qua bên kia là đất Lào. Gọi là cầu vì trước đó chắc cũng có cái cầu. Cầu đã mất và dấu vết chỉ là một khe suối đã được những người lính tu sửa thành cái ngầm, những hòn đá hộc to tướng vất xuống làm thành đường cho xe đi. Mỗi lần qua ngầm, chiếc xe trệu trạo, ngả nghiêng, ngất ngư như thằng say. Cái địa danh heo hút đó từng là nơi tập kết để đánh nhau của vô số đạo quân hai bên. Hai bên đó vốn đều là dòng dõi con Lạc, cháu Hồng. Thời cuộc thay đổi, vậy là đánh nhau đến mất anh, mất em, đánh nhau chí mạng và coi nhau là kẻ thù. Đau khổ cho một dân tộc!
Mọi người chắc nhớ, ngày đó quân ta chỉ hoạt động về đêm. Đêm ra ngầm Bản Đông đón quân. Ngày về lán ngủ. Cơm nước mấy thằng tự lo. Cơm lính chiến thì quá đơn giản. Mình thích ăn cơm với mỡ của miếng thịt rang rán vàng. Mỡ chảy ra và đông lại thành một lớp váng mỏng, dưới đáy nồi quân dụng. Cơm nóng trộn váng mỡ và muối, ăn ngon lành. Còn một món nữa, đó là rau rừng. Phải có rau cho nó đủ chất. Ruột gan người Việt mình luôn phải có đủ chất rau. “Cơm không rau đánh nhau không chửi”. Sai một thằng lính khác, thạo rừng rú, đi kiếm rau. Có gói mì chính một lạng phân cho sĩ quan, lúc này mới phát huy tác dụng. Mì chính quý lắm, mỗi bát canh rau chỉ cho một đầu đũa và khuấy lên.
Mình nhớ nhất cảnh ông trưởng ban xe vẩy mì chính. Có lần ăn với lão. Lão này quen ăn to nói lớn. Lão móc túi ra gói mì chính đựng trong túi ni-lon còn đầy, vẩy vào bát canh “này thì mì chính, này”. Vẩy thêm lần nữa “này, thì mì chính, này”. Lại vẩy thêm lần nữa “Này, thì mì chính này…” ngọt chưa? Giọng lão vang lên to tướng, lại vẩy những ba lần, thằng lính nào dám nói chưa ngọt. Vậy là đủ món mặn, món nhạt, món canh. Xôm ra phết. Mình phục lão trưởng ban xe, phục cái cách vẩy mì chính rất quảng đại của lão, lão tên là Chỉnh, người Nghệ An, sau này chuyển đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn xe vận tải của 559. Có lần gặp lại nhau trong rừng, mình hỏi lão có mì chính không, lão bảo, bây giờ tớ có công vụ đàng hoàng, không giữ nữa. Mình nhìn lão khâm phục, thấy lão rất oách và khí phách. Chẳng hiểu lão còn sống đến hôm nay?
Lại nói về cái ngầm Bản Đông ngày đó. Mình và thằng em ra ngầm ngồi, đón quân. Rét quá, hai đứa đốt lửa sưởi. Dạo đấy, Bản Đông không còn là chiến trường, không còn máy bay, nên đốt lửa sưởi được. Lại nhớ, dạo đó mưa phùn, mưa không to nhưng mưa ướt át nhấm nhách làm tăng cái lạnh. Hai thằng lấy ni-lon che mưa, ngồi trên mấy hòn đá hộc làm đường cho xe, bên đống lửa, cạnh khe suối và im lặng mỗi đứa một ý nghĩ. Im lặng nghe tiếng suối chảy, róc rách thôi, nhỏ nhoi thôi, lặng lờ thôi nhưng mà nhớ. Im lặng nghe mưa, tiếng mưa thì thầm phả cái lạnh vào mặt. Im lặng để thu mình lại, cái gió lạnh buốt kia chỉ phớt hờ thổi qua. Nhớ vì cái hoàn cảnh của nó, hoàn cảnh tự nhiên của cuộc đời, chẳng ai muốn, chẳng thằng lính nào thích, dẫn đến. Nhìn ra màn đêm của cái nơi heo hút ngút ngàn chứng kiến biết bao người chết này, bỗng dưng đẹp, bỗng dưng đáng yêu, bỗng dưng thành cái để nhớ và thật những đêm đó đã mãi đi vào trí nhớ. Có ngủ được đâu, nhưng cũng gà gật, kiểu vừa ngủ vừa nói chuyện được. Vậy mà chẳng ốm đau, gió máy sụt sùi, chẳng ngáp ngắn ngáp dài gì cả.
Hồi đó, mình tam thập nhi lập, thằng em mới hai mươi, người bé tí, mặt non choẹt nên cũng bỗng dưng, thấy mình phải bảo vệ, che chở nó. Mãi nhớ cảnh đó. Sau này hỏi thằng em, mày nhớ không. Nó bảo quên thế nào được. Gắn bó với nhau như vậy đấy.
Chẳng nhớ phải thức mấy đêm thì đón được đơn vị. Cũng lạ, sao mình quên. Mình là thủ trưởng đơn vị mà quên. Quên hết, chỉ nhớ mỗi cảnh hai anh em mấy đêm ngồi bên suối, vào đúng cái mùa có mưa và nhiều gió rét. Sau này nghĩ, nếu không mưa, không gió rét, không đêm tối mù mịt thì chắc cũng chẳng có nổi cái ý nghĩ đẹp ấn tượng về cái địa danh nhiều bom đạn, cũng nhiều chết chóc đó. Lịch sử gọi tên Bản Đông, cái bản tận nơi heo hút xa lắc trong dãy Trường Sơn, là chiến thắng lẫy lừng, còn mình thì nhớ Bản Đông bằng những kỷ niệm không quên về một mùa đông, mùa đông chứa chất tình đồng đội thời chiến và làm nên cái tình sâu đậm của người lính phải đi chiến trận xa nhà.
Thời chiến, cả triệu người lính đã lên đường và cũng triệu con đường cho từng số phận. Có những con đường dẫn đến cái chết của những người lính trẻ măng đó vô cùng kỳ bí. Họ chết, nếu may mắn thì có đồng đội ở bên, còn nếu không, nơi đó, cái nơi người lính năm xuống đó, là một nơi xa lạ và những gương đưa tiễn cũng là những gương mặt xa lạ. Đã mang thân vào chiến trường thì ngày ra Bắc, trở lại quê hương mù mịt lắm. Chính vì vậy, sau chiến dịch Khe Sanh 1968, đơn vị mình ra đóng quân, an dưỡng, chấn chỉnh lại đội ngũ sau một chiến dịch cam go, nhiều hi sinh và mất mát, ở Tân Kỳ, Nghệ An, lính tráng có câu “trung đoàn ta là trung đoàn thép, không cho về phép là trung đoàn nhôm…” Về thăm nhà, gặp lại bố mẹ, vợ chồng, con cái là hy vọng và mong muốn duy nhất, cao cả nhất của người lính, sau mọi phó mặc sống chết cho sự may rủi… Mở ngoặc thêm, có thể, cái nghĩa của từ gia đình trong người lính sâu đậm hơn.
Nhưng mùa đông còn kéo dài. Cái dẻo dai con người, đương đầu với thiên nhiên và cuộc sống khắc nghiệt cũng chỉ có hạn. Những bữa đói, bữa no, những vòi voi búng báng, những mặn chát ca la thầu, những vất vưởng đu đưa trên võng qua đêm… bào mòn dần mọi nét thanh xuân và sự tươi trẻ. Nhưng nặng hơn cả là chống chọi lại cuộc sống núi rừng heo hút. Cái sợ nhất là “ngã nước”quật đổ. Cái từ “ngã nước” xưa kia ông bà ta dùng bây giờ nghĩ lại thấy cực hay và chính xác. Cái ốm của sốt rét vật đổ người ta từ tất cả mọi lý do: muỗi rừng, nước suối (ai bảo nước suối là tinh khiết?), thiếu ăn, vệ sinh và cả bàu khí quyển vây quanh. Tất cả những cái đó, người lính đồng bằng chỉ quen mùi hơi ấm rơm rạ đều dễ vấp.
Những đứa trẻ như thằng em vừa mới lớn, đã trải phong sương, càng dễ vấp. Nó nằm liệt giường, liệt sàn sau một trận ác tính. Gặp ác tính mà không có đồng đội ở bên là dễ “đi” vì lúc đó, người bệnh chìm lịm trong mê man. Ý chí đâu còn nữa mà cũng chẳng sức đâu chống lại được bức màn nặng nề của đêm đen. Cái chết cô đơn của nhiều người lính giữa rừng già là thế. Chỉ sau một đêm thôi, nếu không có đồng đội ngồi bên canh giấc, chiếc võng biến thành tấm vải liệm gọn gàng và tàn nhẫn. Thằng em được gửi lại một bản Vân Kiều lác đác chục nóc nhà. Ở đó nó gặp bà chị thanh niên xung phong. Tình chị em của nó sau này được nó viết thành bài thơ, mình đọc cứ tưởng tình yêu. Ờ mà đáng yêu quá đi chứ nhất là trong lúc yếu đuối, cô đơn, có một bàn tay con gái dịu dàng chăm sóc.
Mãi sau này gặp lại thằng em, hỏi ngày đó mày thế nào. Nó kể lại và nó bâng khuâng. Cái bâng khuâng của nó như lơ lửng, như mây bay, như làn sương sớm giăng giăng trên khắp cánh rừng, trên mọi ngọn núi của vùng đất ác liệt đầy nắng, đầy gió và cũng thấm đậm cái tình con người. Nó nhìn xa xăm, đâu như về phía con đường 9, nơi có cái địa danh Bản Đông và bàn tay nhẹ nhàng của con gái vuốt tóc nó, chăm bẵm nó như đứa em.
Sau này, có nhiều dịp trở lại Bản Đông. Mỗi lần trở lại lại lôi dĩ vãng cùng về và cũng bâng khuâng như thằng em. Nhớ, lần đầu trở lại, cơm chiều xong phố đã lên đèn (giờ đã là phố), sốt ruột lần mò đi bộ dọc đường 9. Như gặp lại con đường phẳng lì mà bọn lái thả phanh, vun vút phóng. Ngày đó, chỉ có một đoạn ngoài thị xã Đông Hà hướng Lao Bảo, khoảng hơn chục cây số, mà ngoài Bắc không đâu có. Hỏi dân địa phương về cây cầu Bản Đông. Thì đây, nó đây và bên kia, sáng choang là một khách sạn.
Ngắm cây cầu, thì ra nó là con cháu, hậu duệ của cây cầu hơn hai mươi năm trước. Chịu không hình dung ra và không chịu tin. Mình cứ đi lò mò tìm khe suối, khe đá, chỗ nào có nước róc rách chảy là đứng lại nhìn, ngắm và nhớ. Rồi tưởng tượng thằng em ngày đó ngồi đây, mình ngồi đây. Hai đưa quàng chung một tấm ni-lon. Nghe thấy tiếng xe ầm ì, nghe thấy tiếng mưa, cả tiếng thì thầm của gió và thổn thức nhìn ánh sao đêm. Tất cả quay về ngày đó. Ngày đó vậy mà đã ba chục năm.
Vinh Anh 11/12/2020
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét