Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2018

Với giới văn nghệ sĩ hômnay

Với giới văn nghệ sĩ hôm nay

Tôi nảy ra ý định viết bài này nhân nghe loáng thoáng bài diễn văn của TBT(thực ra ban đầu chỉ là đọc lại các câu trích từ diễn văn của ông, mà nhiều người viết khác đưa lên mạng. Nhưng khi quyết định viết, phải tìm đọc. Chứ thú thật, bình thường, không đủ kiên nhẫn đọc bài của ông). VA

Ngày chưa có mối quan tâm tới văn nghệ, văn gừng, tôi từng chú ý, khi liên tiếp thấy các ngành lẻ của hội nghệ thuật nước nhà, mở đại hội ngành mà duy chỉ có đại hội của hội nhà văn là được tổ chức ở hội trường Ba Đình (khi chưa bị phá). Một ông bạn nói với tôi: “Đảng cũng phải tôn trọng (sợ) mấy ông trong đầu nhiều chữ…”. Tôi cũng nghĩ như vậy. Đúng là một thời, tôi nghĩ, những người viết văn là những bậc cao nhân, nhiều lời hay ý đẹp.
Trải qua nhiều chặng thăng trầm từ ngày cách mạng, hãy hỏi văn nghệ sĩ nước nhà từ sau 1945, họ thực sự đã có được những vai trò tích cực, có tác động, ảnh hưởng đến xã hội? Tôi đồ rằng, nói về hội thì hội nào cũng oanh liệt, còn nói về cá nhân, các vị văn nghệ sĩ tự biết mình, khiêm tốn lắm, chẳng có mấy người dám vỗ ngực cho ta là đáng để lưu truyền đến mai sau đâu. Ấy vậy mà khi xét thành tích, khen thưởng vẫn cứ thấy huân huy chương bay về như sao sa, hội nào cũng đáng mặt anh tài hết. Có điều gì không thật tương xứng với những tấm huân chương?
Sau khi ra trường được vài năm, trên đường hành quân, tôi đã được đọc và nghe tùy bút “Đường chúng ta đi” của Nguyễn Trung Thành-Nguyên Ngọc. Thật đúng những câu, chữ trong bài tùy bút đó là “bài hịch Bình Ngô đại cáo*. (Lời Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại, khi nghe Võ Chí Công đề nghị viết”, kết hợp với giọng đọc diễn cảm của phát thanh viên, tôi thú thật, đó là những câu chữ “nổi gai” và nó thúc đẩy con đường đi của tôi những năm tháng chiến tranh nhiều lắm.
Tôi không biết Nguyễn Trung Thành có hối hận như Chế Lan Viên khi viết những vần thơ thôi thúc người lính xung trận*(xem chú thích) hay không, nhưng là người sống cùng thời với Nguyễn Trung Thành và Chế Lan Viên, tôi không trách cứ gì các ông hết. Guồng quay xã hội khiến nhiều nhà văn hoặc tự giác, hoặc khiên cưỡng, phải viết ra những dòng chữ động viên, hào sảng đó.
Nguyễn Trung Thành với Chế Lan Viên cùng rất nhiều những nhà văn nhà thơ khác, viết được những bài văn, bài thơ hàm chứa đầy chất lãng mạn có sắc màu anh hùng ca như vậy và được ca ngợi, tôn vinh cũng một phần vì nó phù hợp, đáp ứng được mong muốn của các nhà lãnh đạo, nhà cầm quyền thời đó, nó phục vụ cho cuộc chiến đấu mà nhà cầm quyền đang tiến hành. Thực ra, những người cầm bút đang phục vụ rất tận tụy cho lý tưởng mà họ đang theo đuổi, vấn đề đúng hay sai của những dòng chữ được viết ra, mấy người hiểu biết thấu đáo?
Có thể rất nhiều người trong chúng ta muốn sự rạch ròi: “nếu ông ở “bên này” mà ông ca ngợi “bên kia” một chút là ông không cùng “phe” với chúng tôi” và chắc chắn sẽ là có sự phân biệt đối xử. Nhưng cuộc đời luôn có những khúc quanh khiến ta phải ngoảnh đầu nhìn lại. Tôi nghĩ rằng, nếu cứ xét nét “cái trước, cái sau” kia một cách cứng nhắc, sẽ là người cố chấp. Đó chính “chuyên chính vô sản”, “đấu tranh giai cấp”là “chủ nghĩa lý lịch”!
Tôi bỗng nhớ đến “Sông Đông êm đềm” của Sô-lô-khốp. Cái anh chàng Gơ-ri-gô-ri nhà Mê-lê-khốp khi thì theo “Đỏ”, lúc thì theo “Trắng”, với những định kiến có gốc gác từ gia đình, sẽ là cái quái gì trong con mắt người đọc Việt Nam? Một anh chàng dao động, không vững vàng? Có thể lắm. Vậy mà nhân vật đó, nhân vật có vô khối hình mẫu nguyên si trong cộng đồng Việt Nam hôm nay, lại làm nên tác phẩm để ông Sô-lô-khốp kia dành được Nô-bel văn học danh giá.
Về suy nghĩ và hành động trong một đời người, có hay không cứ phải trước sau như một? Tùy từng hoàn cảnh từng người, nên rất khó nói. Chế độ phong kiến, người ta giáo dục con người trung thành và chỉ thờ một vua) Suy nghĩ con người ta với cuộc sống biến đổi hàng ngày, thậm chí với một số người, còn nhanh hơn. Đừng vội chê trách, phê phán khi sự thay đổi đó theo chiều hướng tiến bộ của xu thế thời đại hay của hoàn cảnh cụ thể. Sự thay đổi tùy thuộc nhận biết từng người.
Xã hội ta đang sống trong ngập ngụa những hành vi phi đạo đức và đạo đức giả. Sự giả dối trong cuộc đời được bắt đầu từ khi đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ. Để nuôi cái thai lớn thành người, người mẹ luôn phải nói dối và sống trong sự giả dối và lẽ đương nhiên, đứa trẻ sẽ ngấm sự giả dối đó cho hết cuộc đời. Nếu chúng ta cứ giáo điều thờ phụng một chân lý thì… bẽ bàng thay!
                                                *****
Một thời gian dài, Nguyên Ngọc, Chế Lan Viên và rất nhiều, rất nhiều văn nghệ sĩ khác phải sáng tác theo định hướng, cái “định hướng” bị giới hạn bởi vô số điều kiện, lý do, đã dần tự giác ngấm vào khá nhiều người cầm bút, để rồi sau 30/4/75, nhiều văn nghệ sĩ thấy hẫng hụt, sự hẫng hụt có cảm giác vì bị lừa dối, mà Dương Thu Hương là sự “trỗi dậy” tiêu biểu.
Thực ra, trước đó, cũng đã có nhiều người chỉ ra sự gò bó vì rào chắn định hướng khiến người nghệ sĩ mất cảm hứng sáng tác. Vấn đề ở đây chính là chuyện cần có tự do, đòi tự do và được phép hiểu “tự do”nó như thế nào, để văn nghệ sĩ không cảm thấy bị ba-ri-e ngăn cấm. Chúng ta đã nghe quá nhiều các vị có chức sắc nói về khoảng trời tự do, về chuyện không vùng cấm cho sáng tác. Ở đây, từng văn nghệ sĩ phải tự biết mà thôi. Học phí trả cho sự hiểu biết này đối với một vài người là quá lớn trong đời sáng tác của họ và nhiều người sáng tác khác đã lấy đó làm tấm gương. Chính vì vậy mà chúng ta có bức tranh chân dung văn nghệ sĩ hôm nay, một bức tranh im lặng, cúi đầu.
Nói chung với tôi, những bài phát biểu dạng kỷ niệm ngày lễ của các vị lãnh đạo, không nhiều ý nghĩa. Tôi chỉ cho đó là những lời giáo huấn của kẻ được quyền nói. Mấy vị ngồi dưới chắc cũng ngồi cho có mặt, giống cụ Tô Hoài ngày trước mà thôi. Thật vậy, những từ ngữ quen thuộc mà các vị thường dùng trong diễn văn mà nhiều người thuộc lòng là: tầm quan trọng, tích cực, quyết tâm, phấn đấu, sửa chữa khuyết điểm, khắc phục yếu kém, hay xông vào mũi nhọn cuộc sống… nó đã nhàm chán và trống rỗng không chỉ với giới văn nghệ, mà lan sang cả mọi tầng lớp nhân dân khác. Để có tác phẩm lớn, ai cũng muốn, nhưng với đa số thì đó chỉ là mơ ước. Văn nghệ sĩ Việt không những “lực bất tòng tâm” về tài năng mà còn phụ thuộc hoàn cảnh nhiều lắm. Cũng có nghĩa, không có nhiều những tác phẩm để lại dấu ấn.
Dẫu rằng Đảng đánh giá rất cao văn nghệ: "Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam" thì văn nghệ sĩ tạo ra các tác phẩm đó cũng vẫn chỉ là con người, con người có cái hay, cái dở và nói chung ở xứ này, văn nghệ sĩ còn không phát huy được tầm vóc của mình đúng lúc, thậm chí nhà văn Phạm Thị Hoài còn đánh giá giới trí thức Việt (trong đó có văn nghệ sĩ) bằng một hình ảnh rất xấu nữa cơ. Nghĩa là Đảng quá biết giới văn nghệ sĩ nước nhà như thế nào, nếu nói quá để “khích” lên một chút thì văn nghệ sĩ cũng chẳng làm được gì hơn đâu. Buồn thay!
Nhân đây cũng nói luôn, phải hiểu thế nào câu này của TBT Trọng trong phát biểu vừa qua: “Đảng không áp đặt, ép buộc, gán cho văn học, nghệ thuật một nhiệm vụ chính trị' khô khan, giản đơn, nhất thời nào, mà hiểu nó như một sứ mệnh'”.
Trong mọi cách có thể hiểu, ở đây, cách dễ hiểu ý ông Trọng nhất là, trong sáng tạo, với văn nghệ sĩ, Đảng không có sự áp đặt, ép buộc, không gán cho các văn nghệ sĩ phải làm nhiệm vụ chính trị. Câu này như bao người đã nói, bởi chẳng ai dại mà nói, Đảng yêu cầu các văn nghệ sĩ làm điểm A, điểm B; làm thế này, thế kia. Đấy, Đảng đã để cho văn nghệ sĩ cả một trời tự do, còn mong gì nữa?
Nhưng quả thật, đọc lại, người ta vẫn hiểu, đó vẫn là thứ tự do có định hướng, có kiểm sát. Và phải hiểu nó như thế nào khi “không áp đặt, ép buộc, gán cho văn học, nghệ thuật một nhiệm vụ chính trị khô khan, giản đơn, nhất thời nào đó?. Tôi chắc, mỗi chúng ta, có cách hiểu câu đó theo các nghĩa khác nhau.
Với tôi là, dù có những từ “không áp đặt, ép buộc, gán cho văn học một nhiệm vụ chính trị khô khan” đấy như mà sao vẫn thấy “áp đặt, gán, ép buộc?” Đó chính là tư tưởng sáng tác như vốn bị giới hạn bởi những rào cản vô hình. Những ba-ri-e văn học đó vẫn lởn vởn trong đầu văn nghệ sĩ. Có phải người nghệ sĩ lúc đó (nhất thời lúc đó) phải bỏ tất cả những gì mà nghệ sĩ đeo đuổi, phấn đấu để phục vụ nhiệm vụ chính trị. Mà theo cách vẫn hiểu của ta, nhiệm vụ chính trị là lớn lao và cho hỏi lại, có việc gì không gắn tới nhiệm vụ chính trị đâu? (!)
Còn phải hiểu thế nào khi “nó là một sứ mệnh”? (Sứ mệnh là nhiệm vụ quan trọng, gần như thiêng liêng (từ điển tiếng Việt)
Khi đã là “một sứ mệnh” thì liệu nó có tách khỏi nhiệm vụ chính trị khô khan được không? Khi ai đó đã vác trên vai “một sứ mệnh” thì cũng có nghĩa, người đó đang gánh cái sứ mệnh chính trị. Liệu có ai đang gánh vác sứ mệnh lại tách được chính trị? Thoát khỏi nhiệm vụ chính trị thì cái sứ mệnh kia còn gì là thiêng liêng nữa.
Vậy là khi coi đó là một sứ mệnh thì không thể tách nhiệm vụ chính trị khỏi sứ mệnh đó.
Đảng không áp đặt, ép buộc…” cũng chỉ là nói để nói mà thôi. Quả tạ vô hình của sự áp đặt, ép buộc và chất “chính trị” vẫn đè nặng lắm.
Người cầm bút là người muốn chia sẻ suy nghĩ và muốn truyền bá suy nghĩ  của mình cho xã hội. Càng nhiều người biết càng tốt. Sự suy nghĩ đòi hỏi có không gian độc lập, tự do và suy nghĩ đó sẽ có cơ hội trở thành tác phẩm sáng tạo. Sự sáng tạo không thể có trong định hướng. Nếu định hướng được sự sáng tạo tức là gần như đã biết kết quả từ trước khi “sáng tạo” xảy ra. Nếu sáng tạo không còn gây được ngạc nhiên, không còn tạo được cảm xúc cho người được chia sẻ, vậy thì sáng tạo nỗi gì? Một đặc điểm ở nước mình, rất nhiều cuộc thi văn thơ được tổ chức, nhưng những tác phẩm sau khi nhận giải, đều bị thời gian phủ bụi, người đời lãng quên là thế.
                                                            *****

Quay lại Sô-lô-khốp với Sông Đông êm đềm của ông. Ông nhà văn này có chịu sự chi phối của định hướng không? Chắc thời đó và ở cái Liên bang xa xôi đó, chưa có định hướng. Tôi chỉ băn khoăn, sao ông này ở tuổi 23 mà viết được tác phẩm mang tính lịch sử, thời đại và đồ sộ như vậy. Nhưng lại nhớ, ở tuổi đó, Việt Nam có Vũ Trọng Phụng. Vũ Trọng Phụng chết năm 27 tuổi, để lại cho hậu thế bao nhiêu của cải mà chúng ta đang hưởng, nhưng vẫn chưa tính hết công trả. Ông có chịu sự tác động của định hướng không? Chắc không! Chỉ duy nhất sự nghèo khổ định hướng được ông. “Cơm áo cũng không đùa với khách văn” là thế. (Mượn Xuân Diệu một ít).

                  Vinh Anh-1/8/18

Ghi chú:
Ai? Tôi!                   (Thơ Chế Lan Viên)
Mu Thân 2.000 người xung đồng bng
Ch mt đêm, còn sng có 30
Ai chu trách nhim v cái chết 2.000 người đó?
Tôi! Tôi - người viết nhng câu thơ c
Ca tng người không tiếc mng mình trong mi cuc xung phong
Mt trong ba mươi người kia mt trn v sau mười năm
Ngi bán quán bên đường nuôi đàn con nh
Quán treo huân chương đầy, mi c
Ch huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chu trách nhim vy?
Li chính là tôi!
Người lính cn mt câu thơ gii đáp v đời
Tôi ú
Người y nhc nhng câu thơ tôi làm người y xung phong
Mà tôi xu h
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người y nuôi đàn con nh
Gia bun ti chua cay vn có th cười
1987


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét