Thằng bạn cũ kỹ ở quê
Tặng P. và các con của bác
Đi đâu, gặp ai lạ, cũng được nó giới thiệu là thằng nối khố. Khố khiếc gì đâu. Chỉ đâu có một lần, đi chơi, mùa hè, tôi chỉ diễn quần lửng, có chuyện ngoài chương trình, cần phải mặc quần dài, lấy đâu ra? Gọi điện cho nó, bảo thằng con mang cho tao cái quần dài để mặc trong buổi nghi lễ. Đấy là lần duy nhất tôi nối khố với nó. Tôi cứ dài dòng giảng giải cái nghĩa đen “nối khố” như thế.
Với tôi, nó cũ kỹ thật. Cũ như từ xưa nó thế. Chân thật, củ mỉ cù mì. Tôi tính sốt ruột, nói nửa câu nghe là hiểu và không thích cái dài dòng cà kê, gạt tay, hiểu rồi. Nó cười, cái cười rất chi là lành và có phần chịu nhún tôi. Đại loại nói văn vẻ, nó rất đồng quê, hơi hướm nhà quê của nó đầy đặn, mỗi lần đến chơi với nó, tôi hớt được một chút váng nhà quê với đồng quê của nó, vì thế có lẽ, mỗi lần làm điều gì đó hay hay, tôi hay nghĩ đến vợ chồng nó.
Tôi rất thích cảnh nhà quê. Thích từ cách chào hỏi (chẳng quen biết gì cả thấy người già già là đã chào, chào ông, ông về đấy ạ...), đến cách thăm hỏi, đến cách mời mọc nhau ăn cỗ. Quê vợ tôi, chuyện mời này là người đứng đầu gia đình đi mời. Rất nhiêu khê, không phải mời một lần mà xong, có nhà phải mời đến ba lần. Quá kinh với lễ giáo người quê, nhưng nếu có chê, cũng chê nho nhỏ, be bé thôi. Đó là “đậm đà bản sắc vùng quê vợ tôi” chứ không phải “bản sắc dân tộc” như ta có người đứng trên bục, buột miệng văng ra, nhiều khi nghe rất vô duyên.
Nói thật, tôi với nó không hợp nhau. Nó cu cũ mà tôi mơi mới (đấy là tôi tự đánh giá). Nó khuyên tôi, bây giờ già rồi, cứ im và nhịn để sống vui cho khỏe. Cái này thì tôi gạt tay, gạt tay mạnh là đằng khác, mày dốt bỏ mẹ. Im là im thế quái nào, tao không như mày. Nó lại cười, nụ cười rất chi là lành. Cái lành của nó làm thân nhiệt tôi giảm xuống tới độ mát. Tôi bảo, đếch thèm nói chuyện với mày. Còn mỗi mình mày, cãi nhau, rồi từ mặt nhau là hết. Tao bây giờ chẳng còn ai nói chuyện, còn mỗi mày, về quê cũng có mỗi mày. Bọn khác giọng tao, tao bỏ hết rồi, còn mỗi mày... Tôi nhắc đi nhắc lại “Còn mỗi mày...” để nó cũng liều liệu mà nói với tôi. Nhưng tôi nghĩ, người lành hiền như nó, kiểu ăn cơm mắm cáy thì ngáy o o như nó, nó chẳng bận tâm những chuyện mà tôi bận tâm.
Thì đấy là tâm tính trời cho.
Đọc trên “phây” tin con vợ nó mất mà tôi không tin. Rõ ràng con nó đưa tin mà tôi cứ ngỡ ngàng. Sao vậy được? Con vợ nó cũng rất giống nó nhưng được cái nói nhiều hơn. Đàn bà thì chấp gì. Tôi tự cho tôi được nói như vậy. Vậy mà con vợ nó nói câu nào cũng chí lý. Tôi còn thằng bạn nữa, hợp với nhau là xe pháo mã. Cái xe pháo mã này hình như cũng từ mồm con vợ nó nói. Con xe thì thằng kia tự nhận, nó là số một và không ngần ngại phong tôi số hai, còn thằng này đương nhiên là số ba. Tôi nghĩ xe pháo mã thì xe có chiều hơn là đúng, pháo mã cũng chỉ như nhau, ngang cơ thôi. Tôi nói với nó, thằng đó muốn hơn để cho nó hơn, tao mày huề. Mà nói thật, tao thấy vô lý và ấm ức. Nhưng lại gặp nụ cười hiền lành của nó, tôi bỏ qua.
Nhưng cái chí lý của vợ nó thì tôi nhận ra. Chuyện là như vầy: Bộ ba xe pháo mã chúng tôi nói chung được gọi là bền. Chẳng gì đến giờ cũng sáu chục năm trời. Gặp nhau vẫn “mày tao” là chính. Có chuyện khúc mắc về quan điểm nhận thức giữa pháo tôi với xe kia. Khúc mắc đến rạn vỡ. Con vợ nó tiếc nuối, nói với tôi “các anh nghĩ lại đi, tình bạn nửa thế kỷ đấy, vất bỏ sao được”. Tôi nghe nó, và nhận ra, chao ôi nửa thế kỷ. Biết bao điều của nửa thế kỷ đã xảy ra. Nhiều lắm! Tôi nhún một nấc, đến nhà thằng xe cùng vợ chồng nó. Con vợ nó tình nguyện làm môi giới hàn gắn. Nhưng khúc mắc đã thành mâu thuẫn “địch-ta”. Chuỵên không xong. Không xong nhưng tôi nói với vợ nó: anh biết, anh hiểu tấm lòng của em với bọn anh. Nhưng biết làm thế nào, nói ra dài lắm. Đã vậy thì bỏ đi em, nửa thế kỷ cũng bỏ. Anh còn biết nhiều cuộc đoạn tuyệt cay đắng hơn nhiều, chuyện bọn anh thấm nỗi gì... Con mắt vợ nó lảng đi, nó buồn, tôi cũng buồn và vợ nó buồn nhất. Tôi nhìn nó và nhận ra điều đau đớn đó.
Trong chuyện này, tôi không nhượng bộ, tôi thể hiện cái điều ương bướng của mình. Cái điều mà tôi hơn chục năm qua đeo đuổi, cái điều tôi nhận ra đấy nhưng ít người nhận ra, ít lắm, đến hôm nay vẫn ít chứ đừng nói ra cả chục năm về trước. Nhưng có điều ngày càng chứng tỏ sự đúng đắn của tôi.
Chuyện chia tay của pháo tôi với xe kia phải nói vớt thêm câu nữa, thà cứ hiền lành và “dốt” chính trị thời cuộc như thằng bạn tôi, nói nhiều câu cũ cũ mà ta đã nghe cả đời người còn hơn là biết nhiều, mang tiếng hiểu nhiều biết rộng nhưng lại quá chậm hiểu vấn đề thời cuộc. Thời thế đang rất cần thay đổi khi nhưng kẻ mang “tư tưởng cũ its” (Nói theo kiểu Nga, đuôi its chỉ người, như Mác xít, Lêninits, vẫn lộng quyền. Tôi cũng đã cảm nhận, xã hội ta càng ngày càng nhận ra cái điều mà tôi không theo (nói nặng là chống đối) là đúng. Cái rõ nhất là biểu tình chống Tàu khựa gậm nhấm đất đai, biển cả của nước Việt mình. Chuyện với thằng Tàu thì quá rõ phải không em, em ở đâu đó có hiểu anh không? Ai mà chẳng nhận ra! Cứ hỏi nhau đi, cứ nói đi, nếu không có cả chục cuộc biểu tình mùa hè đỏ lửa năm 2011, thì cái sự hiểu về thằng Tàu đâu dễ có được như hôm nay?
Đấy là “cái” tình cảm, “cái” hiểu của vợ thằng bạn cũ với tình bạn chúng tôi. Riêng cái này, nó đã quá xứng đáng để làm sợi giây gắn kết bọn tôi. Tôi nói, với tao, nó cũng thân thiết, gần gũi như mày, thằng bạn của tao.
Đến với đám tang con vợ nó, tôi mới nhận ra điều quý giá của một người bình thường. Cái quý giá đó được thể hiện qua mối quan hệ xóm giềng. Cả cái ngõ khoảng trăm mét dài như được dành cho đám tang.
Cái ngõ phất lên vì vị trí đẹp. Cuộc sống ở đời, có cái bỗng nhiên đẹp, có cái đẹp từ từ. Có phải là vị thế đất của những người xưa nơi đây? Có thời gian, tôi ngồi ôn lại kỷ niệm ngày xưa với thằng bạn, thuở hơn nửa thế kỷ trước, thuở bắt đầu cái thời “nối khố”.
Cái đập vào mắt ngay mọi người là một giải dài vườn hoa, nơi tôi và nó có rất nhiều kỷ niệm, nó giữ một phần, tôi giữ một phần, mỗi khi gặp nhau trí nhớ thằng này bổ xung vào kho nhớ của thằng kia và có cái cũng chẳng thể nhớ, cứ gật gù ậm ừ cho qua. Chẳng biết bãi cỏ nào chúng tôi thường đá bóng. Cái nhà kèn bát giác kia, nơi hàng đêm, tôi đến ôn bài vì hồi đó tôi không có sách giáo khoa, phải mượn của nhau để học, chuẩn bị cho thi cấp hai. Chúng tôi đến đó và chủ yếu là tán chuyện, toàn chuyện trời ơi đâu đó và lăn ra ngủ trên sàn nhà bát giác. Cái nhà hôm nay bẩn hơn, cái đường điện nối rất thô để đêm đêm hào nhoáng ánh đèn lập lòe.
Bữa nay tôi vào, nhẹ nhàng dẫm chân lên sàn nhà bát giác, như thấy đau. Tôi đang giẫm lên những kỷ niệm thời thơ trẻ của tôi. Ai lại giẫm lên, phải nâng niu chứ.
Tôi bất ngờ thêm vì tôi nhận ra trong đám tang, thằng bạn tôi chỉ có một thằng con trai, hai đứa con gái mà sao lũ mặc áo sô nhiều thế. Rồi tôi nhớ ngay chuyện vợ nó. Chuyện vợ nó cũng là chuyện nó, chuyện gia đình nó. Chuyện là vầy: Con vợ và thằng chồng đều có tính thương người. Thấy cái đau thiên hạ là muốn chia sẻ và dám chia sẻ. Nó từng đón về ba thằng trẻ con cơ nhỡ và nuôi chúng, có đứa một tháng, có đứa vài năm, lại còn cất công lần mò về cái nơi mà có đứa nhớ là quê, tìm được người nhà của nó. Cái tình và cái dám chia sẻ là vậy. Suy phận tôi, tôi may ra có được cái tình còn cái chia sẻ kia thì khó. Ai không tin cứ thử xem, khó đấy! Chỗ tôi cũng có một cặp già có hoàn cảnh như vậy, vậy mà cả chục năm nay, cái ông bà già đó vẫn cứ chỉ màn trời chiếu đất, có ai chia sẻ đâu. May đâu ai đi ngang bắt gặp, chỉ để lại được ánh mắt ái ngại, rồi bỏ đi. Coi như đã rủ một tấm tình thương mến.
Còn một thằng con nuôi khác. Thằng này sống ngay bên cạnh. Nó có đứa con bị bệnh mắt. Bệnh hiểm nghèo có thể chết. Con vợ thằng bạn tôi bồng ngay thằng bé đi bệnh viện, lên Hà Nội và may sao kịp thời, cứu được thằng bé. Thẳng bé khôi ngô đẹp trai nay đã là sinh viên trường Hàng Hải.
Tôi đã gặp mặt mấy thằng con nuôi. Cảm nhận là chúng nó hết lòng. Để được đối xử hết lòng thì trước hết, phải có tấm lòng. Tôi muốn nói nhờ có đám tang mẹ đây, bác được gặp chúng mày. Bác cám ơn số phận đã quen biết mẹ chúng mày và mẹ chúng mày luôn là cái đích đẹp đẽ mà bác muốn tới.
Và tôi đã thấy cái “gien giống” nhà nó qua đứa con gái lớn. Nó sống với chiều sâu của tình người. Đọc những câu trích về lẽ sống, về cái nên làm của con người của nó trên “phây” mà cứ như thấy mờ ảo cõi xa xôi, nơi con người sống chỉ vì nhau. Con bé như vậy đó. Nhìn nó, phảng phất, mơ hồ mơ về một nơi xa, con người sống chan hòa tình cảm.
Đám tang con vợ thằng bạn tôi rình rang. Chính cái rình rang này khiến tôi nhận ra chất quê kiểng trong cái ngõ giữa trung tâm thành phố nhộn nhịp người xe. Tiếng kèn đám ma mà đôi lúc tôi nghe văng vẳng một nét dân ca. Vâng đám ma có kèn đám ma là chuyện thường. Chuyện thường nhưng với tôi, nó khác. Tôi nhìn vào thấy mấy cậu thổi ò í e đó, thấy chúng nó béo tốt chứ không mang hình ảnh “đại úy về quê thổi kèn đám ma”. Đại úy hưu chiến mà về thổi kèn đám ma cũng là điều hiếm, nhưng nó khiến người ta phải nhắc vì nó mang hình ảnh anh bộ đội, mà hình ảnh bộ đội là hình ảnh đất nước. Đất nước đến cái độ đại úy đi thổi kèn đám ma là đất nước đã đến thời mạt rồi.
Tiếng kèn làm tôi nhức đầu. Tôi thắp hương và muốn nhìn nó lần cuối. Một khuôn mặt khác với khuôn mặt mà tôi đã gặp bao lần. Tôi nói với thằng bạn, vợ mày mà tao không nhận ra, tao gặp khuôn mặt khác, khuôn mặt đức Phật, đầy đặn, hiền hậu và đã buông bỏ mọi nỗi đời.
Tôi lững thững ra ngoài để tìm lại ngày xưa của tôi. Trung tâm thành phố được sửa sang lại đẹp hơn nửa thế kỷ trước nhiều. Cái ngày đó, khi tôi ôm cô bé là vợ tôi hôm nay, “thành phố của anh bé xíu, bé như em, một vòng ôm còn lỏng (có lẽ lúc đó tôi xiết vòng eo cố bé mạnh hơn). Vậy mà hôm nay đẹp lắm, nhưng cái đẹp tân kỳ đó vẫn làm tôi hờ hững. Đứng ở đây, nơi con sông xưa, giờ gọi là hồ Tam Bạc, tôi lại nhớ con sông để thêm mơ mộng. Với tôi nó không phải là hồ, tôi nhớ những lềnh bềnh rác rưởi khi triều lên cơ. Đó con sông Lấp, con sông của ngày xưa nghèo khó của tôi và đương nhiên, của cả thằng bạn tôi. Nó còn nghèo hơn nữa. Vậy mà thi thoảng, cái ngày nó bất đắc dĩ phải về quê sống, nó vẫn đôi khi dấm dúi cho tôi quả thanh trà xanh lè chua ngoét, chua hơn quả mận mà tôi nhón ở quán nước vợ nó.
Tôi yêu cái nghèo xưa quá, yêu đến rưng rưng. Cái nghèo khiến chúng tôi nghĩ về nhau nhiều hơn, dành cho nhau những niềm vui trẻ thơ mà không hề biết. Chỉ hôm nay, nhớ lại, mắt bỗng nhòe đi. Ôi, thành phố và những thằng bạn của tôi.
Tôi hỏi thằng cháu, cái khu bếp tập thể đâu rồi? Nó chỉ đây, đây. “Đây đây”! Đất ấy giờ đã thuộc khuôn viên của trung tâm ngoại ngữ. Cái thằng “ngoại ngữ” này sống và phát triển nhờ đất nước mở cửa. Mở cửa với lân bang thì cần hiểu người ta, biết tiếng người ta mà giao tiếp.
Cái ngõ nhỏ đó phát triển, ăn theo cái trung tâm ngoại ngữ.
Tôi nhận ra sự ăn theo đó từ lần đầu đến. Đứa con gái của thằng bạn có lẽ cũng “ăn theo” cái trung tâm mà phát triển, mà trưởng thành. Nó dịch giọt rất khá. Hồ sơ xin vi-sa xin đi Tây của vợ chồng tôi, nhờ nó đảm hết. Điều mà tôi chẳng bao giờ nghĩ tới, cái ngõ nhỏ nơi gia đình nó sống, chỉ như ngõ nghèo xưa.
Tôi ngồi nhâm nha cốc nước mà nhớ về xưa. Có lần đến thăm gia đình nó, gặp con vợ nó gác cửa, nó nhận ra tôi từ xa. Vậy là cốc nhân trần mát mà nó ngồi bán và những câu hỏi cũ kỹ, quen thuộc đầu tiên được vợ nó tung ra để chào đón tôi. Tôi cứ nhâm nha cốc nhân trần mát và thủng thẳng trả lời từng câu. Hết hỏi chưa, cho vào nhà gặp thằng bạn cũ kỹ được chưa? Con vợ nó, ông đến với lão ấy thì vào nhà, đến với tôi thì ngồi đây. Thế thì để anh ngồi đây, đến với thằng ấy chán bỏ mẹ. Vợ nó cười huếnh hoáng, vô tư, xin các ông, chúng tôi chỉ dám ăn theo, chỉ ăn theo các ông thôi.
Tôi với tay, nhón quả mận chua của quán để nhớ vị chua thanh trà. Đúng là quán quê của mình ngày xưa. Nhấm một chút, thương nhớ cái nghèo của nhau cả đời. Vợ tôi nhận xét, ông chỉ chơi được với những thằng nghèo mà thôi. Ồ, đúng quá, từ trước tới nay, em nói câu này đúng nhất. Vợ nó lừ mắt. Tôi học thằng bạn, cười cho qua cơn của nó. Ý của nó phải là, câu nào nó nói ra cũng đúng cơ. Vợ thằng bạn tôi cũng là một đứa như thế. Chuyện nó kể, chỉ thấy nó đúng, thằng bạn tôi chẳng là cái đinh rỉ trong con mắt nó.
Cái quê kiểng còn nữa. Chẳng ai biết, giữa cái thành phố một thời lưu giữ tuổi thơ tôi, cho tôi chút nhân cách làm người, lại quê kiểng như vậy. Tôi kể ra đây vì tôi thấy nó đáng yêu. Tôi bảo cái ngõ nghèo vẫn lưu được cái văn hóa làng xã. Người tứ xứ về đây, người hiểu cái nguyên bản cũ kỹ của mảnh đất này ít lắm, tôi là người biết cái mảnh đất cũ, tôi thuộc dạng cũ kỹ, cổ xưa. Người như tôi không còn nhiều, cũng đang xếp hàng để về với tổ tiên.
Không hiểu sao, khi nghĩ về quê, tôi chỉ nghĩ đến những ngày học cấp hai và nghĩ đến xe pháo mã bọn tôi mà thôi. Cái thành phố một tay ôm còn lỏng và hai thằng trong bộ ba xe pháo mã đó chiếm chật đầy ký ức tuổi niên thiếu mong chóng lớn của tôi. Ba năm đó, tôi đã là một thằng bé có đủ trí nhớ để nhớ được những chuyện đáng nhớ.
Sau đó tôi xa chúng nó. Cuộc đời, số phận và hoàn cảnh gia đình đưa tôi vào lính. Ngày hôm thành lính thì đêm hôm trước, chúng tôi bốn đứa, có cả thằng Bình gần nhà tôi, chúng nó tiễn tôi trên vỉa hè. Chúng tôi ngồi vỉa hè, bốn cặp chân thả xuống lòng đường, nơi bước chéo sang bên kia có cái trại lính của thành đội, mà chút nữa tôi sẽ chui vào. Chúng tôi nói chuyện về hôm nay một chút, ngày mai một chút và cả ngày kia một chút. Chúng tôi nói về tương lai. ( Còn hiện giờ là tôi đang ôn lại quá khứ). Đường phố ngày đó vắng, chỉ thi thoảng có cái xe đạp, đêm rồi nên cái người ngồi trên cũng vội. Đường phố ít bụi, chúng tôi hít thở không khí mát lành của màn đêm có pha vị mặn của muối. Gió mát kèm với vị mằn mặn gió biển đất cảng tiễn tôi vào đời.
Thời đó chưa chiến tranh, chúng tôi đều mới lớn, lớn nhưng chưa được gọi là trưởng thành. Các cụ bảo “có nhớn mà không có khôn” là thế. Với riêng tôi, đã đến phút cuối cùng của thời học sinh, đã đến giờ tôi phải vào trại lính. Vậy là xong một cuộc tiễn đưa thời nghèo đói của chúng tôi. Bọn bạn tôi, chúng nó đưa tiễn một con người vào đời như vậy đấy. Ôi cái ngày xưa, ngày xưa như vậy làm sao có thể quên.
Thằng bạn va đập với đời mạnh hơn và sớm hơn tôi. Đôi khi có gặp nó, có cả thằng xe nữa. Chúng tôi ăn với nhau một bữa cơm nghèo của thằng xe mời, thằng xe hồi ấy tươm nhất, nó toàn nói chuyện về các ông trên cao xa lắc, rồi chia tay. Tôi quay về phía nó, mày về với những “mia, những mốc của mày, tao về với súng ống của tao, còn thằng xe ở lại thủ đô với những ông có vai, có vế rất to của nó. Tôi nói có phyaanf ghen tức.
Giờ thì tôi đến tiễn vợ nó. Cái tính và cái tình làng quê thể hiện ở cái đám tang vợ nó. Tôi cứ nghĩ, cả xóm này, cả cái ngõ nghèo này chung tay vào đám tang cho vợ nó. Người ta đóng cửa hàng hết để lấy chỗ dựng rạp, đón người đến chia buồn, phúng viếng. Còn đây là hình ảnh quê. Chốn quê kiểng chúng ta vẫn thấy các bà, các chị chung tay giúp sức khi nhà ai đó có việc. Ngõ nghèo đây cũng vậy, thật ra có tân tiến hơn là việc cơm nước. Vậy mà tôi như thấy cả ngõ cùng xúm tay vào làm. Đấy là văn hóa làng xã.
Tôi nói với thằng bạn, vợ mày sống chân thành, mọi người quý mến. Nó nói lại, không thật vậy đâu, cái lề thói quê kiểng ở đây nó như vậy. Mày sốt ruột cho tao vì thấy tao mệt ư? Mệt đấy nhưng đấy là tình làng nghĩa xóm. Đến mười giờ đêm vẫn có người đến viếng, vậy nhanh thế nào được.
Có phải mọi đám tang, người ta đều muốn xong nhanh, xong nhanh để nỗi đau cũng qua nhanh. Cái đau qua đi và nhịp sống bình thường trở lại. Nhưng nhìn thằng bạn, tôi nhận ra, nỗi đau qua nhanh với ai chứ với nó nhanh sao được. Chẳng vậy mà nó nói với tôi khi ngả lưng: “Đấy, mọi khi cái gối này bà ấy để gác chân...” Ôi, nhanh sao được.. Tao chôn chân khi thấy mày đập đầu vào quan tài, buốt lòng nghe tiếng gọi mẹ ơi của hai đứa con gái, quên thế nào được. Hình bóng vợ mày còn mãi. Tao tin thế và mong mày vượt qua cái đận hẫng hụt này. Lại nhớ hình ảnh, thằng cháu đích tôn ghé vào tai ông nó: “Hôm nay cháu sang ngủ với ông”. Cũng là niềm an ủi, phải không mày, một niềm an ủi không phải ai cũng có.
Vinh Anh
18/6/21
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét