Nhận thức con người và những
bức xúc xã hội
Theo Wikipedia: Nhận thức (tiếng
Anh: cognition) là hành
động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh
nghiệm và giác quan, bao gồm các qui
trình như tri thức, sự chú ý,
trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc
giải quyết vấn đề, việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ.
Thực sự, đây là vấn đề khó nhằn, liên quan dây nhợ, đến tất
cả mọi người trong xã hội, cái xã hội ồn ào, nhố nhăng, nhốn nháo mà con người
sống trong đó.
Bỏ qua những từ ngữ rối rắm, tôi hiểu đơn giản hơn: Nhận
thức của con người là một quá trình lâu dài, chịu ảnh hưởng sâu sắc của xã hội,
nơi người đó sống, mọi quan hệ của cuộc sống phản ảnh vào não trạng, gây ấn tượng
vào con người. Nói nhận thức con người là nói về sự hiểu biết của anh ta trước
các vấn đề xã hội đầy mâu thuẫn, trước những đấu tranh phe phái và quyền lợi,
chính nghĩa và phi nghĩa… để rồi rút ra những nhận thức, lý lẽ sao cho phù hợp
với cuộc sống.
Xã hội người Việt đang sống chịu ảnh hưởng của những hệ
suy nghĩ bảo thủ và điều đó làm nhận thức con người trì trệ, lạc hậu thậm chí
có thể nói là người Việt hôm nay cứ “ngu mãi, ngu trường kỳ”, không chịu thay đổi
hoặc không thể thay đổi.
Người Việt lười tư duy và chỉ muốn ăn sẵn. Tư duy quanh
lũy tre làng và chỉ biết so sánh với thằng hàng xóm, cốt sao đừng thua thằng
hàng xóm là được. Thằng Tây, thằng Tàu ở đâu, làm gì thì mặc nó. Suy nghĩ đó, làm
cho tầm nhìn bị hạn chế, không còn ý chí vươn lên. Ngẫm thấy, trong cuộc sống
hiện tại, người Việt chẳng có gì để lại cho nhân loại. Nguyên nhân? Cũng chỉ từ
mọi sự của cuộc sống, người Việt chỉ biết học mót, làm theo kẻ đi trước. Rồi tự
khen, tự sướng: học được cho bằng người cũng đã là giỏi(!).
Nhận thức về xã hội hiện tại, người Việt đứng ở đâu? Nói
thật thì đau đớn, có lẽ cũng chưa thực bước qua được ngưỡng ông cha ngày xưa. Vẫn
chỉ quanh quẩn so mình với hàng xóm, nó hơn ta một chút là thấy khó chịu, thì cố
lên bằng nó. May ra, một số người có ý nghĩ “đầu gà còn hơn đuôi voi”, còn
không, “người ta sống được thì mình sống được”. Vậy là thỏa mãn!
Vậy có nghĩa là, xã hội ngoài xa kia, có gì thì thây kệ.
Triết lý, mà chẳng hiểu có phải triết lý không, nhưng thói “an phận thủ thường”
là cách sống của người Việt còn rất sâu đậm. Người Việt thích hiểu theo ý không ganh đua, không có
ý chí vươn lên, không cần những thứ mình không có. An phận là thế! ( Lão Tử cũng nói:“Biết đủ trong
cái đủ của mình thì luôn luôn đủ” Và người Việt muốn sống theo cách đó.)
Vậy là tư duy người Việt rất hạn chế. Người Việt ôm nhau,
bảo ban nhau trong cái hạn chế đó. “Trèo cao ngã đau” là một lời răn để chỉ những
ai cố vượt qua lũy tre làng, vượt cái mặt bằng xã hội người Việt sống trong đó.
Ngẫm ra, chúng ta chẳng sáng tạo gì. Bạn đừng tự ái vì tôi
nói câu đó. Trong màn đêm sâu lắng yên tĩnh, thử nghĩ mà xem, chúng ta chỉ tự
khen mình mà thôi. “Mèo khen mèo dài đuôi”. Chẳng vậy mà một thời, những là “Công
nghiệp hóa, cơ khí hóa, lấy công nghiệp nặng làm then chốt” cùng với bài ca “làm
chủ tập thể” là một sáng tạo, là đóng góp vào kho tàng lý luận Mác-Lê và bây giờ
“Định hướng xã hội chủ nghĩa” là đặc thù riêng, là sáng tạo trong điều kiện thế
giới hỗn loạn, cũng là câu nói không thể thiếu của bất cứ ai đứng trên bục rao
giảng, nhưng có ai dám nói, đó cũng chỉ là học mót không? Người Việt nói lại
như con vẹt những câu của người khác mà chẳng bao giờ mất công nghĩ về nó. Bởi
nói như vậy đồng nghĩa như là thể hiện sự am hiểu của mình và quan trọng hơn,
biểu lộ được sự trung thành của mình nữa.
Nghĩa là phải hiểu, cái “dân trí” người mình rất hạn chế. Điều
hạn chế không loại trừ giới trí thức tinh hoa. Trong điều hạn chế đó, phải nói
thêm, chúng ta lại có cái hơn người ở sự tự hào rởm, rất “văn minh lúa nước”, rất
“bàu ơi thương lấy bí cùng…” Cứ động cái gì hay ho mà dính dáng đến chút dòng
máu Việt là hô toáng lên: “Gốc Việt”. Chẳng hiểu khi nói về mối liên hệ tít mù xa
như vậy, cái người có chút dòng máu đã loãng kia, còn tự hào? Thí dụ, một cầu
thủ bóng đá họ Đỗ người Thái, có dòng máu Việt từ thời ông anh ta, hãy nghe anh
ta nói, tôi là người Thái, tôi sống ở Thái, chẳng biết gì về Việt Nam cả… Niềm
tự hào muốn vơ vào ở đâu đó còn không hay lại hùa nhau vác đá ném anh ta, ném cho
cái sự thật phũ phàng đó phải chết.
Cái “tự hào rởm” ở người Việt nặng lắm, sâu đậm lắm. Nói
thí dụ: một ông trí thức có tư tưởng phản biện (phản biện theo nghĩa tiến bộ).
Ông được một số ông khác cũng nổi tiếng và cũng có xu hướng phản biện tiến bộ
ca ngợi và đương nhiên phải hiểu, sự ca ngợi, suy tôn này nọ thường chỉ giới hạn
trong một số người (cũng có thể có người nổi tiếng) nhưng nó chưa bao giờ thành
một hiện tượng xã hội (vấn đề hot). Và rồi họ ca ngợi nhau, tôn nhau lên là số
một. Không hiểu sao, đã là trí thức nổi tiếng, vậy mà rất nhiều lần họ nhắc lại
những lời thách đố của họ. Họ mong có một ai đó “đấu” với họ để họ chứng tỏ vị
trí “số một”. Quả thật cũng có người đã “dám đấu”, nhưng rồi qua cách dùng từ
tranh luận, những người đó đều chào thua. Thua về những lời lẽ cố chấp, khó lọt
tai, “rất chi là” đượm sự hợm hĩnh. Vậy ra, người ta ngại phải “chơi với hủi”
mà thôi. Đấy cũng là một sự “tự hào rởm” với sự tự phong thánh cho nhau.
Điều dễ hiểu, phát ngôn là thể hiện nhận thức ( nghĩa là
tư duy) của con người. Người mình có đặc điểm, hễ làm quan là hay phát ngôn (có
điều kiện mà, có quyền mà). Chẳng hiểu thời hiện đại hôm nay, do truyền thông
phát triển hay do bệnh sính chữ của các quan mà các quan hay “loạn ngôn” lắm. Hãy nghe các quan nói: “hàng triệu tấn chất
thải của Formosa là nguồn lợi lớn nếu chúng ta biết sử dụng trong các công
trình thay cát; hàng hải sản không vào được Nhật, về Việt nam vẫn ăn được; các
nước có chỉ số IQ cao đều có tàu cao tốc; cầu sập là do quá tải vì người Mông
khiêng quan tài đi nhanh; xây công viên nghĩa trang để giúp tỉnh phát triển bền
vững; nợ xấu tăng vì lợn rớt giá; tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn,
chúng tôi chống lại, có khi chết trước… (và vô số nữa nhé, trích dẫn hết đêm
cũng không hết nhé). Đó là gì? Đó là tư duy nô lệ, nịnh bợ theo xu thế thời
cuộc, để bênh vực, bào chữa cho sự vô lý, thậm chí cho tội lỗi đã xảy ra. Nhưng
điều đáng nói hơn, đó là sự vô lý đến ngu dốt của quan chức. Lại hỏi, vì sao xảy
ra? Trả lời chung nhất chỉ là tư duy nô lệ. Mọi suy nghĩ của người có quyền
phát ngôn đã bị ràng buộc, không thể nào thoát ra được.
Đó cũng là điểm chung, nổi bật của xã hội hôm nay. Xã hội
bị trói buộc, khiến nhận thức bị cầm tù, khiến người Việt thỏa mãn với chính sự
ngu dốt, mông muội của mình.
Còn nói về bức xúc xã hội thì nhiều lắm. Không ngoa nhé, bất
cứ điều gì xảy ra cũng có thể dẫn đến bức xúc của người dân. Bức xúc của dân
chúng tức là bức xúc xã hội. Một xã hội chứa đầy nỗi bức xúc, xã hội đó có
chông chiêng? Và càng thêm khôi hài khi phải nghe “thời đại ta đang sống, xã hội
ta tốt đẹp hơn bất kỳ thời đại nào”.
Cái mà người dân muốn rõ, những bức xúc đó có nguyên nhân
từ đâu và từ ai? Trả lời cho ra nhẽ cũng không khó, một khi dám nói thẳng, dám
nhìn vào sự thật. Tôi cố trả lời “cho ra nhẽ” một vài điều, nghĩa là nói cái
“nguyên nhân” và cái “từ ai”.
Câu trả lời là từ phía các ông quan. Tất cả những bức xúc đều
từ đó mà ra.
Các ông quan, dù lớn hay nhỏ, khi đã được bố trí ngồi vào
ghế, đều mắc chứng bệnh tưởng rằng mình tài giỏi hơn người và các ông ấy quên
luôn chuyện, mới hôm qua, ông ấy vẫn là người bình thường. Cái quên để tỏ cho
người đời phải biết, tôi đã là con người khác. Có rất nhiều người cố tình không
biết, sự thăng tiến đó xảy ra như một trò hề (chuyện bàu cử Quốc hội chẳng hạn).
Ít người sau đó thấm được, chuyện các vị được lên chức, ngồi chỗ cao, nhưng các
vị chỉ là những quân cờ trên bàn cờ có người cầm quân điều khiển. Chỗ ngồi đó của
các vị, không hẳn từ tài năng.
Cái sai ở đây thấy được ngay là từ sự quản lý và bố trí
nhân sự. Ấy vậy mà bao lâu nay chỉ nói mon men, cấm bao giờ chỉ rõ nguồn ngạch.
Nhân sự cho lãnh đạo tối cao các loại ở xứ mình bị bịt bùng trong cái lồng thể
chế và sự đấu đá thiếu minh bạch. Chọn lựa lãnh đạo các cấp thấp hơn thì bằng
con mắt cấp trên, tất cả đội hình đều phải đẹp theo định hướng. Vì thế, ngay từ
nội tại phương thức lựa chọn, đã tạo ra loại cán bộ chỉ biết làm theo định hướng.
Vậy bức xúc ở đây chính từ cách tạo ra lãnh đạo các cấp. Nói rõ hơn, tất cả các
loại quan, được gộp vào, gọi chung là “cán bộ”. Với cách chọn lựa như thế, cấp
nào cũng có vấn đề, không trừ một cấp nào hết.
Trong cái lồng thể chế chật hẹp đó, các bộ dù có thông
minh mấy cũng bị kiềm tỏa bởi cả đống chính sách, mà chính sách cũng được viết
ra chính từ cái lồng đó, mang khuôn mẫu của cái lồng đó. Từ những khuôn mẫu được
đào tạo từ lòng thể chế đó, người ta đã chỉ đạo, đã đề ra tiêu chuẩn về chọn lựa
cán bộ. Nhưng một điều hiển nhiên ai cũng thấy, cả đống những cán bộ to nhỏ mọi
cấp, đều đã qua chọn lựa kỹ càng và đều đang xếp hàng vào lò của bác Tổng.
Nhưng chính bác Tổng cũng được đào tạo từ cái lồng thể chế đó, vậy cái sai xuất
phát từ điểm cao nhất của thể chế. Tại sao ta không dám nói cái quy trình chọn
lựa như vậy đã sai?
Tình trạng bức xúc của người dân hiện nay xảy ra ở khắp
nơi mà nguồn gốc, xuất phát điểm của sai lầm chính là sự lựa chọn cán bộ không
đủ phẩm chất, không đạt yêu cầu. Cái sai đó chính là từ thể chế. Không thay đổi
thể chế, không thể tìm được cán bộ quản lý có năng lực.
Đừng loay hoay mất thời gian tìm lãnh đạo ở cái slogan “vừa
hồng vừa chuyên hoặc vì dân vì nước”. Không tìm được đâu! Nếu có thì đó lại là
sự giả dối được che đậy tinh vi và đã qua được mắt những kẻ gác cổng bảo thù,
trì trệ nhưng lại nắm phần quyết định sự lựa chọn. Vấn đề là phải thay đổi hệ
thống, phải thay đổi cách chọn lựa.
Sự bức xúc của xã hội cũng chính là sự bức xúc của người
dân. Hệ thống cán bộ quản lý các loại, từ thấp đến cao, đã đẻ ra sự bức xúc đó.
Không có cán bộ quản lý như ở xứ ta, sẽ không còn sự bức xúc nữa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét